Tại Rặng Núi Cuồng Điên (phần 2) - H. P. Lovecraft - Truyện Đọc Online

14/02/2024

Giới thiệu chung:

  1. Tiêu đề truyện gốc: At the Mountains of Madness
  2. Năm xuất bản lần đầu: 1931
  3. Dịch tiếng Việt bởi: Nguyễn Thành Long
  4. Bản quyền bản dịch: Sách Bookism

---

Đọc truyện: Tại Rặng Núi Cuồng Điên

CHƯƠNG I (2)

Chặng cuối của hành trình mới rực rỡ và kích thích trí tưởng tượng làm sao. Những chóp núi trơ trụi kỳ bí luôn thấp thoáng nơi đằng Tây, còn Mặt Trời hoặc treo sễ mình ở phương Bắc khi đương trưa, hoặc quệt sát đường chân trời bên mạn Nam lúc khuya tối; và từ chốn ngự, vầng dương sẽ rưới đẫm ánh hung mờ tỏ lên lớp tuyết trắng, lên mặt băng cùng làn nước xanh phớt, lên cả những mảng đen của triền đá hoa cương lộ thiên nữa. Lồng lộng càn quét theo từng hồi, từng đợt giữa các sơn đỉnh quạnh hiu là những cơn gió Nam Cực kinh khiếp. Đôi khi, phách điệu của chúng nghe từa tựa một tiếng sáo man dại, phần nào có tri giác, với các nốt trầm bổng lên xuống trên một dải âm vực rất rộng. Khúc nhạc này khơi dậy ở tôi một cảm giác bất an, thậm chí còn cả chút ghê sợ, có lẽ vì chúng chạm được vào một ký ức nào đấy ẩn sâu trong tiềm thức. Ngắm nhìn cảnh trí, tôi bất giác nhớ đến những bức tranh châu Á kỳ khôi và rợn người của Nicholas Roerich[1], cũng như những mô tả còn kỳ rợn gấp bội về cao nguyên Leng tà ác - một mảnh đất huyền thoại từng được đề cập đến trong Necronomicon[2], cuốn sách sởn gai ốc do gã Ả Rập điên Abdul Alhazred biên soạn. Tôi từng tham khảo tài liệu đáng ghê tởm đó trong thư viện trường, và sau này, hành động ấy đã khiến tôi phải khôn xiết hối hận.

Vào hôm mùng 7 tháng Mười Một, rặng núi phía Tây tạm thời biệt tích, và chúng tôi băng qua đảo Franklin[3]. Hôm sau, chúng tôi nhìn thấy chỏm của núi Erebus với núi Terror[4] trên đảo Ross đằng trước mặt, thấy cả hình bóng rặng Parry[5] duỗi ườn ở xa nữa. Giờ đây, trải dài bên mạn Đông là một đường màu trắng thâm thấp. Đó chính là Đại Băng Lũy. Nó dựng thẳng đứng, ngất ngưởng vươn mình lên hơn sáu chục mét, chẳng khác nào các vách đá cheo leo ở Quebec, và đặt dấu chấm hết cho hải trình xuôi xuống phương Nam. Đến chiều, chúng tôi tiến vào eo McMurdo và neo lại ngoài khơi, nép khuất sau núi Erebus nghi ngút khói để tránh gió. Đỉnh đá nham thạch ấy rướn tới tận độ cao chừng ba ngàn tám trăm mét, hằn in một khối trên nền trời Đông, hệt như núi Phú Sĩ linh thiêng trong một bức tranh Nhật Bản. Chễm chệ sau nó là núi Terror trắng toát, ma mị, cao ba ngàn chín trăm mét, và nay đã tắt ngấm.

Khói đen túa lên từ Erebus theo từng đợt, và một sinh viên trợ lý - một cậu thanh niên tài trí tên Danforth - đã trỏ vào phần sườn phủ đầy tuyết, nói trên ấy có thứ gì trông giống dung nham, đồng thời bình phẩm rằng ngọn núi vốn được phát hiện năm 1840 kia ắt chính là nguyên mẫu của một thi ảnh do Poe[6] phóng bút tạo dựng, thành hình bảy năm sau ngày người đời hay danh Erebus:

… lửa dung nham cuốn hừng hực
Lưu huỳnh ùng ục tràn Yaanek
Trong tiết cùng tột nơi địa cực -
Rền rĩ tuôn đổ khỏi Yaanek
Giữa cõi Bắc phương, xứ kịch dừng.[7]

Danforth rất say mê những áng văn, vần thơ cổ quái, và đã nhiều lần thao thao bất tuyệt về Poe. Bản thân tôi cũng có chút mến mộ Poe, bởi lẽ ông từng khắc họa cảnh sắc Nam Cực trong cuốn tiểu thuyết Arthur Gordon Pym[8] lạnh gáy và bí ẩn - câu chuyện dài duy nhất Poe từng sáng tác. Trên bờ biển cằn cỗi, và trên cả bức lũy băng uy nghi nơi nền cảnh, hằng hà sa số chim cánh cụt kỳ hình dị tướng đang quang quác kêu và vỗ cánh. Trong khi ấy, nếu nhìn về phía làn nước, chúng tôi sẽ thấy cơ man nào hải cẩu béo núc ních đang tung tăng bơi lội hoặc nằm kềnh trên những tảng băng lớn, chầm chậm trôi dạt.

Ngay sau nửa đêm, khi vừa bước sang sáng mùng 9, một cuộc đổ bộ chông gai lên đảo Ross bắt đầu diễn ra. Chúng tôi cập vào đảo bằng thuyền nhỏ, mỗi thuyền kéo theo một sợi cáp, và chuẩn bị tiến hành bốc dỡ đồ vào bờ thông qua một tổ hợp phao vận chuyển. Khi lần đầu đặt chân lên đất Nam Cực, chúng tôi lâng lâng trong lòng bao xúc cảm sâu lắng và phức tạp, dù cho trước chúng tôi, nơi đây từng đón bước các đoàn của Scott và Shackleton rồi. Khu trại được chúng tôi lập trên bờ biển đóng băng dưới sườn núi chỉ là căn cứ tạm thời, còn tàu Arkham thì vẫn là tổng hành dinh. Chúng tôi đưa lên đất liền toàn bộ chỗ máy khoan, chó, xe trượt tuyết, lều, lương thực, bình xăng, đồ nghề làm tan băng thử nghiệm, các loại máy ảnh chụp thường và chụp trên không, bộ phận phi cơ, cùng hàng loạt phụ kiện khác, trong đó bao gồm ba máy vô tuyến di động cỡ nhỏ (không kể những máy đã lắp sẵn trong phi cơ) đủ sức kết nối với thiết bị vô tuyến lớn trên tàu Arkham từ bất cứ địa điểm nào trên lục địa Nam Cực mà đoàn chúng tôi dễ có khả năng sẽ ghé thăm. Bộ thiết bị của tàu sẽ giữ liên lạc với thế giới bên ngoài, chịu trách nhiệm gửi các thông cáo báo chí đến trạm vô tuyến công suất mạnh của tờ Arkham Advertiser tại Kingsport Head, Massachusetts. Chúng tôi hy vọng sẽ hoàn tất được công việc trong nội một mùa hè Nam Cực; nhưng ví phỏng làm vậy không khả thi, chúng tôi sẽ trú đông trên tàu Arkham và điều tàu Miskatonic trở về phương Bắc trước khi biển đóng băng, để nó còn sửa soạn đồ tiếp tế cho mùa hè năm tới.

Những gì báo giới đã đăng về các hoạt động ban đầu của chúng tôi - bao gồm chuyến leo núi Erebus; những vụ khoan tìm khoáng vật thành công tại một số điểm trên đảo Ross, được giàn máy của Pabodie thực hiện với tốc độ phi thường, kể cả khi phải đục xuyên đá rắn; cuộc thử nghiệm thiết bị làm tan băng quy mô nhỏ; hành trình chở vật dụng đầy nguy nan lên Đại Băng Lũy bằng xe trượt tuyết; và công đoạn lắp ráp hoàn chỉnh năm chiếc phi cơ khổng lồ tại trại trên đỉnh bức lũy - sẽ không cần được nhắc lại. Ở trên bộ, đoàn chúng tôi có hai mươi nhân mạng cùng năm mươi lăm con chó kéo xe Alaska, và cả người lẫn chó đều không ốm đau bệnh tật gì; nhưng tất nhiên, tính đến thời điểm hiện tại, chúng tôi chưa chạm trán mức nhiệt hay cơn bão nào thực sự khốc liệt. Nhiệt kế chủ yếu dao động trong khoảng từ -18 độ đến -7 độ hoặc trên -4 độ, và vì từng kinh qua mùa đông ở New England, chúng tôi không đến mức lạ lẫm với điều kiện khắc nghiệt kiểu vậy. Trại dựng trên lũy băng là một căn cứ bán dài hạn, và nó sẽ được sử dụng làm kho trữ xăng, lương thực, thuốc nổ, cũng như các món đồ thiết dụng khác. Để chở vật liệu thám hiểm, chúng tôi chỉ cần dùng đến bốn phi cơ là đủ; chiếc thứ năm thì được cất ở kho trữ, dưới sự quản lý của một phi công và hai nhân sự trên tàu. Trong trường hợp đoàn mất hết các phi cơ thám hiểm, người ta sẽ có thể dùng nó để bay từ tàu Arkham đến chỗ chúng tôi. Sau này, mỗi khi không phải dùng cả bốn phi cơ kia để thồ máy móc thiết bị, chúng tôi lại trưng dụng một, hai chiếc để chuyên chở người qua lại giữa kho trữ và một căn cứ dài hạn khác. Căn cứ này nằm trên cao nguyên Nam Cực[9], cách kho tầm trên dưới ngàn cây gì đấy về phía Nam, quá chỗ sông băng Beardmore[10]. Dù hầu như mọi báo cáo đều tường thuật rằng sẽ có những trận gió bão kinh hoàng tràn xuống từ cao nguyên, chúng tôi vẫn quyết định không dựng trại trung chuyển. Đây là một canh bạc liều lĩnh, nhưng nó sẽ giúp tiết kiệm chi phí, và có thể còn nâng cao hiệu quả hoạt động nữa.

Như đã tường thuật trong các báo cáo vô tuyến, vào hôm 21 tháng Mười Một, chúng tôi đã thực hiện một chuyến bay tuyệt diệu đến hớp hồn. Suốt bốn tiếng không ngơi nghỉ, chúng tôi rẽ trời lướt trên thềm băng kỳ vĩ. Hộ tống phi đoàn là những ngọn núi cao lớn ở cánh Tây, cùng với một sự tĩnh lặng vô bờ bến, vang vọng tiếng động cơ. Gió chỉ gây trở ngại cho chúng tôi ở mức vừa phải, và nhờ có la bàn vô tuyến, chúng tôi đã trót lọt lèo lái qua màn sương mù dày đặc duy nhất mình đụng độ. Khi một triền đất khổng lồ lừng lững xuất hiện phía trước, giữa vĩ độ 83 và 84, chúng tôi biết mình đã ra đến Beardmore, sông băng thung lũng[11] lớn nhất thế giới; và giờ đây, mặt biển băng giá đang dần nhường chỗ cho một đường bờ biển hằn học, gập ghềnh non núi. Cuối cùng, chúng tôi đã thực sự dấn bước vào cái thế giới trắng xóa, ngàn vạn kỷ trời chỉ là chốn âm ti của miền phương Nam cùng tận. Và vừa lúc nhận ra điều đó, chúng tôi cũng trông thấy luôn đỉnh Nansen[12] xa xa nơi đằng Đông, chót vót vươn cao gần bốn ngàn mét rưỡi.

Căn cứ phía Nam đã được chúng tôi thiết lập thành công ở tọa độ 86° 7’ vĩ Nam, 174° 23’ kinh Đông, mạn trên của con sông băng. Chúng tôi khi thì cưỡi xe trượt tuyết, lúc thì bay các chặng ngắn, ghé hết chốn này đến chốn nọ để tiến hành khoan đục và cho nổ mìn; tất cả đều được thực hiện một cách mau lẹ và hiệu quả đến thần diệu. Ngoài ra, từ hôm 13 cho đến 15 tháng Mười Hai, Pabodie cùng hai sinh viên cao học - Gedney và Carroll - đã có một hành trình leo núi Nansen đầy gian nan, nhưng rốt cuộc cũng đã chinh phục được nó. Tất cả những sự kiện trên đều đã được tài liệu sử sách ghi nhận. Chúng tôi ở độ cao khoảng hai ngàn năm trăm mét so với mực nước biển, và trong quá trình khoan thử nghiệm, đoàn chúng tôi phát hiện ra rằng tại một số điểm nhất định, băng tuyết chỉ phủ dày ba mét rưỡi, còn dưới đó là nền đất rắn. Thế là, tại hàng loạt nơi trước đây chưa nhà thám hiểm nào từng nghĩ đến việc thu thập khoáng vật, chúng tôi liên tục đem bộ thiết bị làm tan băng nhỏ ra sử dụng, kết hợp với khoan lỗ và cho nổ mìn. Những mẫu đá hoa cương Tiền Cambri và sa thạch Beacon[13] thu được nhờ phương pháp đó xác nhận quan điểm của chúng tôi, ấy là cao nguyên này thuần nhất với phần lớn khối lục địa ở phía Tây, song lại hơi khác với các khu vực nằm ở phía Đông, mạn dưới Nam Mỹ. Lúc bấy giờ, chúng tôi cứ ngỡ những vùng phía Đông đó hợp thành một lục địa con riêng biệt, bị một miền băng nơi biển Ross giao với biển Weddell[14] chia tách khỏi lục địa lớn; nhưng về sau, giả thuyết này đã bị Byrd bác bỏ.

Sau khi đã phát hiện ra bản chất sa thạch nhờ khoan thăm dò, chúng tôi sẽ khai thác mẫu bằng thuốc nổ, thế rồi dùng dùi đục đẽo gọt chúng. Trong một số mẫu vật thu được, chúng tôi đã tìm thấy những vết tích cũng như mảnh hóa thạch hết sức thú vị, đặc biệt là dương xỉ, rong biển, bọ ba thùy, huệ biển, cùng những loài thân mềm như động vật thuộc bộ tay cuộn dạng lưỡi và động vật lớp chân bụng - tất cả xem chừng đều đóng vai trò quan trọng trong lịch sử nguyên thủy của vùng. Ngoài ra, còn có cả một vết hình tam giác quái đản, vằn vện các dải vân, với đường xuyên tâm lớn nhất dài khoảng ba mươi phân, được Lake ghép lại từ ba mảnh đá bảng lấy dưới một hố khoan nổ mìn sâu hoắm. Mấy mảnh đá này gốc nằm tại một địa điểm chếch bên mé Tây, gần rặng Nữ hoàng Alexandra[15]; và Lake, với nhãn quan một nhà sinh vật học, ra chiều rất lấy làm lạ về cái vết kỳ cục do chúng hợp thành, ý chừng coi đây là một thứ lý thú khác thường. Tuy nhiên, trong mắt dân địa chất như tôi, nó trông cũng chỉ tương tự mấy hiệu ứng gợn sóng hay xuất hiện ở đá trầm tích. Đá bảng chẳng qua chỉ là một kết cấu đá biến chất, hình thành từ một tầng trầm tích bị đè nén, và nếu trên đấy có bất kỳ vết tích nào, chúng cũng sẽ bị chính áp lực đó gây biến dạng theo những kiểu dị hợm. Vì thế, tôi chẳng thấy vết lõm có vân này có gì đáng trầm trồ thái quá đến vậy.

Vào hôm mùng 6 tháng Một, 1931, tôi, Lake, Pabodie, Danforth, và cả sáu sinh viên còn lại đã bay thẳng qua vùng trời điểm cực Nam trên hai phi cơ lớn. Có một lần gió mạnh chợt nổi lên, buộc đoàn chúng tôi phải hạ cánh; nhưng thật may mắn, nó không bùng hẳn thành một trận bão chuẩn mực. Như báo chí đã đăng, đây là một chuyến bay thám sát. Ngoài nó, chúng tôi còn thực hiện vài chuyến khác tương tự, vừa bay vừa dốc sức tìm kiếm các địa mạo mới ở những chốn chưa lớp thám hiểm đàn anh nào từng thăm thú. Thất vọng thay, trong mấy đợt bay đầu, chúng tôi chẳng đạt được mục tiêu đã đề ra. Tuy nhiên, cũng chính trong những lần công cán đó, chúng tôi đã có cơ hội thưởng lãm một số ảo ảnh mỹ diệu và huyễn hoặc vô ngần của miền cực - những thức quà đoàn tôi mới chỉ được nếm sơ sơ mùi vị hồi vẫn đang lênh đênh ngoài khơi. Những rặng núi xa lơ lửng giữa trời, trông hệt các đô thành được yểm phép tiên; và lắm lúc, dưới yêu thuật của hòn lửa Mặt Trời sa thấp lúc nửa đêm, toàn bộ thế giới trắng ngần sẽ biến tan, hóa thành một xứ sở thắm tươi sắc vàng, sắc bạc, cùng sắc đỏ, tựa hồ chiêm bao của Lãnh chúa Dunsany[16] hiển linh với muôn vàn phiêu lưu ngóng đợi. Vào những ngày nhiều mây, việc bay trở nên khó khăn hơn hẳn, bởi lẽ nền đất tuyết phủ và bầu trời thường hay quyện lại thành một miền hư vô thần bí, đùng đục màu sữa, tuyệt chẳng thấy bóng dáng chân trời đánh dấu nơi đôi bên tiếp giáp nhau ở đâu hết.

Một thời gian sau, chúng tôi quyết định làm theo kế hoạch gốc, đó là lái cả bốn phi cơ thám hiểm tám trăm cây số về phía Đông và thiết lập một căn cứ phụ mới, với địa điểm nhiều khả năng sẽ nằm trên mảnh đất khi ấy hãy còn bị chúng tôi lầm tưởng là lục địa con. Các mẫu vật địa chất thu được tại đó sẽ rất có giá trị, bởi chúng tôi có thể dùng chúng làm tài nguyên so sánh. Tính đến nay, cả đoàn vẫn duy trì được thể trạng tuyệt hảo - dù phải ăn thực phẩm đóng hộp cùng đồ ướp muối triền miên, chúng tôi vẫn cân bằng tốt dinh dưỡng nhờ bổ sung nước cốt chanh; và vì nhiệt độ hầu như luôn cao hơn ngưỡng âm mười bảy, chúng tôi đỡ phải quấn kín mít những bộ đồ lông dày cộp lên người. Bấy giờ đang là giữa hè, và nếu khẩn trương triển khai mọi công tác sao cho thật chu đáo, chưa biết chừng chúng tôi sẽ kịp xong việc trước cuối tháng Ba, từ đấy tránh được một kỳ trú đông tẻ ngắt, thâu suốt đêm trường Nam Cực. Một loạt cơn bão hung tợn đã ập đến chỗ chúng tôi từ phía Tây, nhưng Atwood đã nghĩ ra diệu kế đắp những khối tuyết dày thành lán bảo vệ phi cơ và rào chắn gió thô sơ, đồng thời còn tháo vát dùng tuyết gia cố các gian lều chính trong trại. Nhờ sự tài tình của ông ta, chúng tôi không phải chịu thiệt hại gì. Quả tình, công việc của chúng tôi đã tiến triển một cách may mắn và suôn sẻ đến lạ.

Tất nhiên, công chúng đã biết về chương trình của chúng tôi, đồng thời cũng biết cả về chuyện Lake đã cố chấp đến kỳ khôi, sống chết đòi tổ chức bằng được một chuyến thám hiểm thăm dò về phía Tây - hay đúng hơn là phía Tây Bắc - trước khi chúng tôi chuyển hẳn sang căn cứ mới. Xem chừng cái vết tam giác có vân hằn trên phiến đá kia đã khiến ông miên man ngẫm ngợi, tưới tắm tâm tưởng với những ý nghĩ hết sức táo tợn và đáng quan ngại. Ông suy diễn ra được đôi ba điều bất nhất giữa đặc điểm tự nhiên và thời kỳ địa chất của cái vết, thành thử óc tò mò bị kích thích tột độ, và hăm hở muốn đẩy mạnh triển khai khoan đục kết hợp nổ mìn tại thành hệ trải dài về phía Tây, bởi vì mấy mảnh đá chúng tôi đã khai quật được hiển nhiên từng là một phần của nó. Ông đinh ninh đến lạ về cái vết đấy, chắc mẩm nó là dấu tích của một sinh vật đồ sộ, chưa ai từng biết đến, hoàn toàn không thể phân loại được, và thuộc nấc tiến hóa rất cao, dù cho phiến đá chứa nó có niên đại xa xưa tột cùng - từ tận kỷ Cambri, hoặc có khi Tiền Cambri cũng nên. Trong cái thuở viễn cổ ấy, sự sống vẫn còn chưa vượt nổi cấp đơn bào, hoặc bất quá cũng chỉ mới phát triển đến giai đoạn ba thùy thôi, nói chi đến chuyện có các sinh vật tiến hóa bậc cao? Những mảnh đá này, với cái vết kỳ lạ chúng mang, ắt phải có tuổi đời từ khoảng năm trăm triệu cho đến một tỷ năm chứ không ít.

(Hết chương I)

---

Phần trước: Chương I (1)

Phần tiếp theo: Chương II



[1] Tức Nikolai Konstantinovich Rerikh (1874 - 1947), một họa sĩ kiêm triết gia nổi tiếng người Nga. Lúc sinh thời, ông có quan tâm đến lĩnh vực tâm linh, và những bức tranh của ông được cho là mang tính thôi miên đối với người thưởng lãm. [N.D.]

[2] Một tài liệu tà ma giả tưởng do Lovecraft sáng tạo, nhiều lần được đề cập đến trong các tác phẩm thuộc thế giới thần thoại của ông. Necronomicon còn được biết đến với cái tên “Tử Thư”. [N.D.]

[3] Một hòn đảo trong biển Ross, nằm phía Đông eo McMurdo. Đảo được đặt theo tên John Franklin (1786 - 1847), một thống đốc từng nồng hậu tiếp đãi đoàn thám hiểm của James Clark Ross trên đường họ tiến về phía Nam. [N.D.]

[4] Một núi lửa hình khiên lớn trên đảo Ross. Tên ngọn núi được đặt theo tàu Hải quân Hoàng gia Terror, một trong hai con tàu do James Clark Ross chỉ huy trong chuyến thám hiểm Nam Cực 1839 - 1843. [N.D.]

[5] Một ảo ảnh bị James Clark Ross lầm tưởng là núi. Theo quan sát sai lệch của Ross, “rặng núi” đó nằm gần hai ngọn Erebus và Terror, chạy từ điểm cực Đông của đảo Ross về phía Nam. Tên của nó được đặt theo William Edward Parry (1790 - 1855), một nhà thám hiểm Nam Cực lừng danh, từng là sĩ quan chỉ huy của Ross. [N.D.]

[6] Tức Edgar Allan Poe (1809-1849), một nhà văn kiêm thi sĩ người Mỹ, nổi tiếng với những bài thơ và truyện ngắn bí ẩn, rùng rợn. [N.D.]

[7] Trích từ “Ulalume”, một bài thơ kể về nỗi nhung nhớ một cô gái tên Ulalume do Edgar Allan Poe sáng tác. [N.D.]

[8] Tức “The Narrative of Arthur Gordon Pym of Nantucket” (tạm dịch: Câu chuyện về Arthur Gordon Pym đảo Nantucket). Truyện kể về chuyến phiêu lưu của một anh chàng tên Arthur Gordon Pym sau khi anh ta trốn lên một con tàu săn cá voi. [N.D.]

[9] Một cao nguyên mênh mông ở Đông Nam Cực, trải dài trên một vùng với đường kính gần 1.000 km, có độ cao trung bình khoảng 3.000 m so với mặt biển. [N.D.]

[10] Một sông băng chạy từ cao nguyên Nam Cực xuống Đại Lũy Băng. Con sông băng được Ernest Shackleton - người tìm ra nó - đặt theo tên của William Beardmore (1856 - 1936), nhà tài trợ cho chuyến thám hiểm của Shackleton. [N.D.]

[11] Một dạng sông băng nằm giữa các vách núi đá. [N.D.]

[12] Một ngọn núi lớn ở vùng đất Victoria, được đặt theo tên nhà thám hiểm người Na Uy Fridtjof Nansen (1861 - 1930). [N.D.]

[13] Một hệ tầng địa chất ở Nam Cực, được bồi tụ trong giai đoạn từ 400 đến 250 triệu năm trước. Tên của nó được lấy theo cụm đỉnh Beacon, hai đỉnh núi lớn thuộc khối sa thạch, được dùng làm mốc trắc địa cho nó. [N.D.]

[14] Một phần của Nam Đại Dương, nằm lệch về phía Đông của biển Ross và bị chia tách khỏi nó bởi Tiểu Nam Cực (phần lãnh thổ nằm ở Tây Bán cầu của Nam Cực). Biển được đặt theo tên của James Weddell (1787 - 1834) - người thủy thủ đầu tiên từng tiến vào biển này. [N.D.]

[15] Một rặng núi lớn nằm ở phía Đông biển Ross, gần Đại Lũy Băng. Tên rặng núi được đặt theo Nữ hoàng Alexandra (1844 - 1925) của Anh. [N.D.]

[16] Tức Edward John Moreton Drax Plunkett (1878-1957), Nam tước thứ 18 của Dunsany (Hạt Meath, Ireland), hay được gọi là Lãnh chúa Dunsany. Ông là một nhà văn kiêm nhà biên kịch rất nổi tiếng với các tác phẩm văn học kỳ ảo. [N.D.]

TAGS :

tg:H. P. Lovecraft, tp:Tại Rặng Núi Cuồng Điên