Lịch Sử Necronomicon - H.P. Lovecraft | Đọc online free

28/09/2026

Giới thiệu chung

Tiêu đề truyện gốc
History of the Necronomicon
Tác giả
H. P. Lovecraft
Năm xuất bản lần đầu
1938
Chuyển ngữ bởi
Nguyễn Thành Long
Bản quyền bản dịch
Sách Bookism

Đọc: Lịch Sử Cuốn Necronomicon

Nhan đề nguyên bản là Al Azif, với azif là từ vốn được dân Ả Rập dùng để chỉ thứ âm thanh ban đêm (do côn trùng phát ra) từng được cho là tiếng hú của loài quỷ dữ.[1]

Biên soạn nên tác phẩm là Abdul Alhazred[2], một thi sĩ điên người Sanaá[3], xứ Yemen, tương truyền từng có một sự nghiệp rực rỡ dưới thời các khalip nhà Ommiade[4], khoảng năm 700 Công nguyên. Y từng đặt chân tới những phế tích thành Babylon[5] cùng những bí mật dưới lòng đất ở Memphis[6], và đã kinh qua mười năm sống cô độc giữa đại hoang mạc phía Nam bán đảo Ả Rập, tức Roba el Khaliyeh[7] hay "Khoảng Trống" theo cách gọi của người xưa, và hoang mạc "Dahna"[8] hay "Đỏ Thẫm" theo cách gọi của dân Ả Rập thời nay, nơi được tin là có ác linh canh giữ trú ngụ, đồng thời cũng là chốn ẩn mình của bè lũ quái vật gieo rắc chết chóc. Về hoang mạc này, muôn vàn dị tượng ly kỳ khó tin đã được thuật lại qua miệng những kẻ tự xưng từng dấn thân vào chốn ấy. Trong những năm cuối đời, Alhazred ngụ tại Damascus, nơi cuốn Necronomicon (Al Azif) được viết nên, và xoay quanh cái chết hay sự biến mất sau rốt của y (năm 738 Công nguyên), muôn điều khủng khiếp mà cũng trái ngược nhau được lưu truyền. Theo Ebn Khallikan[9] (nhà viết tiểu sử thế kỷ 12), một con quái vật vô hình đã vồ lấy y ngay giữa thanh thiên bạch nhật, và rồi, trước đông đảo cặp mắt của những nhân chứng chết trân vì kinh hãi, man rợ ăn tươi nuốt sống y. Về thần trí điên loạn của y, có cơ man lời đồn đại. Y quả quyết mình từng tận mắt thấy Irem huyền thoại, tức Thành phố Cột trụ[10], và đã tìm thấy bên dưới phế tích của một cổ trấn vô danh nơi hoang mạc những biên niên sử cùng bí mật chấn động thuộc về một giống loài xưa hơn cả loài người. Y chỉ là một tín đồ Hồi giáo hờ hững, thờ phụng những thực thể chẳng ai hay biết mà y gọi là Yog-Sothoth[11] và Cthulhu[12].

Năm 950 Công nguyên, cuốn Azif, bấy giờ vốn đã lưu truyền khá rộng trong giới triết gia đương thời, dù chỉ thầm lén, đã được Theodorus Philetas[13] ở Constantinople bí mật dịch sang tiếng Hy Lạp dưới nhan đề Necronomicon. Suốt một thế kỷ, nó đã xui khiến một số kẻ ham thử nghiệm lao đầu triển khai những mưu toan kinh hoàng, cho đến khi bị Thượng phụ Michael[14] cấm đoán và thiêu hủy. Từ dạo ấy, cuốn sách chỉ còn được nhắc đến qua những lời thì thào lén lút, song về sau, vẫn trong thời Trung Cổ (1228), Olaus Wormius[15] biên ra một bản dịch tiếng La-tinh, và bản văn La-tinh này đã hai lần được in ấn, một lần vào thế kỷ mười lăm bằng kiểu chữ Gothic[16] cổ (hiển nhiên là tại Đức) và một lần vào thế kỷ mười bảy (nhiều khả năng là tại Tây Ban Nha), cả hai ấn bản đều không mang ký hiệu gì để nhận diện, với niên đại và nơi xuất xứ chỉ xác định được nhờ chứng tích ấn loát bên trong sách. Năm 1232, không lâu sau khi bản dịch La-tinh ra đời và khiến người đời chú ý tới tác phẩm, cả bản La-tinh lẫn bản Hy Lạp đều bị Giáo hoàng Gregory IX[17] ban lệnh cấm. Bản tiếng Ả Rập gốc đã thất lạc từ tận thời của Wormius, như chính lời tựa của ông cho biết; còn bản Hy Lạp, vốn được in tại Ý trong khoảng từ 1500 đến 1550, thì chưa ai từng thấy lại kể từ sau khi thư viện của một cư dân thị trấn Salem[18] nọ bị thiêu rụi vào năm 1692. Một bản dịch tiếng Anh từng được Tiến sĩ Dee[19] thực hiện, song nó chưa bao giờ được ấn hành và nay chỉ còn tồn tại dưới dạng những mảnh nội dung chắp vá thu được từ bản thảo gốc. Theo như được biết, trong số các bản La-tinh hiện còn, một bản (thời thế kỷ 15) đang được cất giữ cẩn mật tại Bảo tàng Anh, trong khi một bản khác (thế kỷ 17) thì nằm ở Bibliothèque Nationale[20] tại Paris. Một ấn bản thế kỷ mười bảy đang lưu ở Thư viện Widener tại Harvard[21], cùng cả thư viện thuộc Đại học Miskatonic tại Arkham[22]. Ngoài ra còn có thêm một bản trong thư viện của Đại học Buenos Ayres. Nhiều bản khác có lẽ vẫn bí mật tồn tại ở đâu đó, và xưa nay luôn dai dẳng râm ran một lời đồn rằng trong bộ sưu tập của một triệu phú Mỹ lừng danh nhất định có chứa một ấn bản từ thời thế kỷ mười lăm. Lại có lời đồn còn mơ hồ hơn nữa về một bản văn Hy Lạp thời thế kỷ mười sáu, bảo rằng nó được lưu giữ bởi gia tộc Pickman ở Salem; song nếu quả có vậy thì nó cũng đã biến mất cùng R.U. Pickman[23], người họa sĩ đã bặt vô âm tín vào đầu năm 1926. Cuốn sách bị nhà cầm quyền của hầu hết các quốc gia cùng mọi chi phái giáo hội có tổ chức nghiêm cấm triệt để. Đọc nó đồng nghĩa với rước vào thân những hậu quả khôn lường. Tương truyền, chính lời đồn về cuốn sách này (thứ mà quảng đại quần chúng ít ai hay biết) đã khơi cho R.W. Chambers[24] ý tưởng để viết nên Vị Vua Trong Bộ Hoàng Bào, cuốn tiểu thuyết thời kỳ đầu của mình.

Niên biểu

  • Al Azif được Abdul Alhazred viết nên vào khoảng năm 730 Công nguyên tại Damascus
  • Được Theodorus Philetas dịch sang tiếng Hy Lạp vào năm 950 Công nguyên với nhan đề Necronomicon
  • Bị Thượng phụ Michael thiêu hủy năm 1050 (bản tiếng Hy Lạp). Bản tiếng Ả Rập bấy giờ đã thất truyền.
  • Được Olaus dịch từ tiếng Hy Lạp sang tiếng La-tinh năm 1228
  • Năm 1232, ấn bản tiếng La-tinh (và Hy Lạp) bị Giáo hoàng Gregory IX nghiêm cấm
  • Năm 14**, xuất hiện ấn bản in kiểu chữ Gothic (Đức)
  • Năm 15**, bản tiếng Hy Lạp được in tại Ý
  • Năm 16**, bản tiếng La-tinh được tái bản tại Tây Ban Nha

Chú thích

  1. Định nghĩa này được Lovecraft viết dựa trên cước chú của Mục sư Samuel Henley trong bản dịch tiểu thuyết Vathek, nơi Henley liên hệ các loài côn trùng đêm gieo rắc tai ương với quỷ vương Beelzebub ("Chúa ruồi") và với cách đoạn Thánh Vịnh 91:5 trong một số bản Kinh Thánh tiếng Anh thế kỷ 16 từng nhắc đến "bọ đêm" (tức "bugges by night"). Tuy nhiên, nhà soạn từ điển Ibn Manzur (1233-1311) cùng nhà địa lý thế kỷ 10 Al-Hamdani (893-945) khẳng định ʿazīf (عَزيف) thực chất là tiếng gió rít hoặc tiếng cát xào xạc nơi các cồn cát sa mạc, vốn bị người Ả Rập cổ đại coi là tiếng vọng ma quái hay thanh âm nhạc cụ của loài linh thần jinn, chứ không phải tiếng côn trùng. [N.D.] ↩
  2. Abdul Alhazred thực chất là một cái tên Ả Rập không thể có thật ngoài đời. Nguyên do bởi từ "Abdul" trong cách chuyển tự tiếng Anh kỳ thực là cấu trúc kết hợp giữa danh từ nguyên cách ʿabdu (عَبْدُ) cùng mạo từ xác định al- (الـ), mang nghĩa tương đương "tôi tớ của...", và trong ngữ pháp Ả Rập, mạo từ này đáng lẽ phải đi cùng danh từ thứ hai trong tên, tức từ "Alhazred". Tuy nhiên, bản thân từ "Alhazred" vốn đã là một danh từ xác định mang mạo từ al- phía trước. Do đó, ngay cả nếu có coi "Alhazred" là dạng biến âm của chữ al-ḥaḍrāt (حَضْرَات, nghĩa là "những sự hiện diện") thì "Abdul Alhazred" vẫn tạo thành một cấu trúc ngữ pháp bất khả thi. [N.D.] ↩
  3. Thủ đô kiêm thành phố lớn nhất của Yemen, nay thường được viết là Sanaa. [N.D.] ↩
  4. Cách viết cũ của Umayyad, vương triều khalip thứ hai lập ra sau khi nhà tiên tri Muhammad mất, cai trị từ năm 661 đến 750 với kinh đô chính là Damascus. [N.D.] ↩
  5. Một thành phố cổ bên hạ lưu sông Euphrates ở miền Nam Lưỡng Hà, nay thuộc thành phố Hillah (Iraq), cách Baghdad khoảng 85 km về phía Nam. Trước thời vua Nebuchadnezzar II (605 đến 562 TCN), nhà cửa ở Babylon chủ yếu xây bằng gạch không nung, dù rằng gạch nung vẫn được dùng ở mức hạn chế. [N.D.] ↩
  6. Kinh đô cổ của Ai Cập thời Sơ kỳ triều đại và Cổ vương quốc, tương truyền do vua Menes lập nên, nằm bên bờ Tây sông Nile, cách Cairo ngày nay khoảng 20 km về phía Nam. [N.D.] ↩
  7. Cách phiên âm cũ của Rub' al Khali, tức "Góc trống" (Empty Quarter) trong tiếng Ả Rập, tên của sa mạc cát liền dải lớn nhất thế giới, trải qua lãnh thổ của Ả Rập Xê Út, Oman, UAE và Yemen, rộng khoảng 650.000 km². [N.D.] ↩
  8. Dải sa mạc cát ở trung tâm bán đảo Ả Rập, nối sa mạc Nafud ở phía Bắc với Rub' al Khali ở phía Nam. Cồn cát ở đây phần lớn có màu đỏ vì chứa ô-xít sắt. [N.D.] ↩
  9. Một sử gia Hồi giáo có thật, từng làm chánh án ở Damascus, đồng thời cũng là một tác giả tiểu sử nổi tiếng. Ông sống ở thế kỷ 13 chứ không phải thế kỷ 12 như Lovecraft ghi. Và vì Alhazred là nhân vật hư cấu, lời kể về cái chết của Alhazred được Lovecraft gán cho ông cũng là hư cấu. [N.D.] ↩
  10. Còn có tên là Iram, Irum hoặc Erum. Đây là một thành phố thất lạc được nhắc trong kinh Qur'an, gắn với tộc người 'Ād, những người vóc dáng cao lớn bị trừng phạt vì gây nhiều tội ác. Đến nay, các học giả vẫn chưa xác định được liệu Irem là tên một địa danh hay một bộ tộc. [N.D.] ↩
  11. Một thực thể hư cấu thuộc vũ trụ thần thoại Cthulhu của Lovecraft, được mô tả là thực thể biết cả quá khứ, hiện tại và tương lai, tồn tại vượt ngoài không gian và thời gian. Yog-Sothoth được nhắc lần đầu trong The Case of Charles Dexter Ward (1927) và sau đó hiện diện xuyên suốt nhiều sáng tác của Lovecraft, đến mức chính Lovecraft lúc sinh thời đã từng trào phúng gọi vũ trụ thần thoại của mình là "Yog-Sothothery". [N.D.] ↩
  12. Một thực thể ngoài hành tinh hư cấu với hình dạng gớm guốc, rất hay được nhắc đến trong các tác phẩm giả tưởng của Lovecraft. Cthulhu xuất hiện lần đầu trong The Call of Cthulhu (1928), và nhờ có hình thể được mô tả khá kỹ lưỡng so với các thực thể khác trong cùng vũ trụ, cái tên của nó nay đã trở thành một thuật ngữ mang tính thương hiệu, với "thần thoại Cthulhu" được sử dụng như tên gọi phổ thông cho nhóm các tác phẩm thuộc chung bối cảnh giả tưởng do Lovecraft tạo ra. [N.D.] ↩
  13. Một học giả hư cấu, thuần túy do Lovecraft sáng tạo ra. [N.D.] ↩
  14. Nhiều khả năng ám chỉ Michael I Cerularius, Thượng phụ Constantinople từ năm 1043, người đóng vai trò then chốt trong cuộc Đại Ly giáo Đông Tây năm 1054. Ông là nhân vật có thật, nhưng việc ông thiêu hủy Necronomicon năm 1050 là chi tiết hư cấu của Lovecraft. [N.D.] ↩
  15. Tức Ole Worm, thầy thuốc, nhà nghiên cứu tự nhiên và cổ vật người Đan Mạch có thật. Tuy nhiên, Lovecraft đã để cho ông dịch Necronomicon sang tiếng La-tinh năm 1228, một mốc thời gian rơi vào khoảng bốn thế kỷ trước khi ông ra đời. [N.D.] ↩
  16. Còn gọi là "chữ đen" (black-letter), một kiểu chữ dùng khắp Tây Âu từ cuối thế kỷ 12 đến thế kỷ 17. Gutenberg dùng kiểu chữ này khi in cuốn Kinh Thánh 42 dòng, và ở Đức, nó còn được dùng đến tận năm 1941. [N.D.] ↩
  17. Tên thật là Ugolino di Conti, một giáo hoàng nổi tiếng với việc ban hành bộ luật giáo hội Decretales và lập Tòa án Dị giáo của Giáo hoàng năm 1233. Lệnh cấm Necronomicon năm 1232 được Lovecraft gán cho ông là chi tiết hư cấu. [N.D.] ↩
  18. Một thị trấn thuộc bang Massachusetts, Mỹ. Đây là nơi từng diễn ra các vụ xét xử phù thủy khét tiếng trong giai đoạn từ tháng 2/1692 đến tháng 5/1693, với hơn 200 người bị buộc tội và 19 người bị treo cổ. Vụ đốt thư viện của một cư dân Salem được nhắc đến ở đây là chi tiết hư cấu, được Lovecraft đưa vào nhằm ám chỉ nhân vật liên quan là một người có dính líu đến tà thuật. [N.D.] ↩
  19. Tức John Dee, nhà toán học, thiên văn học, chiêm tinh, huyền học và giả kim người Anh, cố vấn của nữ hoàng Elizabeth I. Bản dịch Necronomicon sang tiếng Anh được Lovecraft gán cho ông là hư cấu. [N.D.] ↩
  20. Tức Thư viện Quốc gia Pháp, có nguồn gốc từ thư viện hoàng gia do vua Charles V lập tại cung điện Louvre năm 1368. [N.D.] ↩
  21. Thư viện chính của Đại học Harvard, xây bằng tiền do bà Eleanor Elkins Widener đóng góp để tưởng nhớ con trai mình là Harry, sinh viên khóa 1907 tại trường, người đã thiệt mạng trong vụ đắm tàu Titanic. [N.D.] ↩
  22. Cả Đại học Miskatonic lẫn thành phố Arkham đều là địa danh hư cấu do Lovecraft tạo ra, đặt ở bang Massachusetts. Lovecraft hình dung Arkham có không khí giống thị trấn Salem nhưng nhiều đồi hơn. [N.D.] ↩
  23. Một họa sĩ hư cấu xuất hiện trong Pickman's Model (1927) của Lovecraft, khét tiếng với những bức tranh ghê rợn vẽ quái vật có thật. Vị họa sĩ này sống ở Boston, song dòng họ lại có gốc gác từ Salem. [N.D.] ↩
  24. Tức Robert W. Chambers, một nhà văn người Mỹ rất được Lovecraft hâm mộ. The King in Yellow (1895), tức "Vị Vua Trong Bộ Hoàng Bào", là một tác phẩm có thật của ông, song nó là một tập truyện ngắn chứ không phải tiểu thuyết như Lovecraft nói, với nội dung xoay quanh một vở kịch khiến ai đọc cũng phát điên. Việc Chambers lấy ý tưởng từ tin đồn về Necronomicon để viết ra tác phẩm là một tình tiết hư cấu do Lovecraft thêu dệt nên. [N.D.] ↩