Con Mồi Nguy Hiểm Nhất - Richard Connell | Đọc online free

25/05/2023

Giới thiệu chung

Tiêu đề truyện gốc
The Most Dangerous Game
Tác giả
Richard Connell
Năm xuất bản lần đầu
1924
Chuyển ngữ bởi
Quang Hoàng
Bản quyền bản dịch
Sách Bookism

Đọc truyện: Con Mồi Nguy Hiểm Nhất

PHẦN I

"Đâu đó ngoài xa kia, chếch bên mạn phải ấy, là một hòn đảo khổng lồ," Whitney nói, "Nó bí hiểm lắm."

"Đảo nào vậy?" Rainford hỏi.

"Mấy tấm bản đồ cổ ghi tên nó là Đảo Bẫy Tàu," Whitney đáp. "Nghe cũng gợi tả phết đấy nhỉ? Chẳng hiểu sao, ngư dân sợ nơi này phát khiếp. Họ có một mê tín gì đấy…"

"Tôi chẳng thấy nó đâu cả," Rainford nói, cố phóng mắt nhìn xuyên màn đêm nhiệt đới ẩm ướt, đặc đến nỗi như quánh cả lại, hiện đang phủ chụp cái sắc đen kịt ấm nóng của mình lên con thuyền.

"Tôi biết mắt anh tinh rồi," vừa cười, Whitney vừa nói, "và đã có lần tôi thấy anh bắn hạ nguyên con hươu lẩn trong bụi rậm giữa đợt trời thu, khi lá đã ngả nâu, cách xa tận bốn trăm mét. Nhưng vào trong một đêm không trăng như tối nay, ngay cả anh cũng không đủ cơ nhìn được quá bốn dặm tại vùng Caribe này đâu."

"Đến bốn mét cũng chẳng nhìn thấu nổi," Rainford thừa nhận. "Ôi! Cứ như một lớp nhung đen ẩm ướt vậy."

"Ở Rio sẽ sáng sủa hơn," Whitney hứa. "Chỉ vài ngày nữa là ta sẽ tới nơi. Hy vọng chỗ súng đã được hãng Purdey gửi đến. Rồi chúng ta sẽ được tận hưởng những cuộc săn thú vị ven dòng Amazon. Săn bắn, cái trò mới tuyệt vời làm sao!"

"Môn thể thao hấp dẫn nhất thế giới," Rainford đồng tình.

"Chỉ với những kẻ đi săn thôi" Whitney sửa lời. "Lũ báo sẽ không thấy thế đâu."

"Đừng nhăng cuội nữa, Whitney," Rainsford càu nhàu. "Anh là thợ săn, không phải triết gia. Nào ai quan tâm mấy con báo đó nghĩ gì?"

"Biết đâu lũ báo quan tâm." Whitney nhận định.

"Xời! Chúng nhận thức được gì đâu."

"Kể cả vậy, tôi nghĩ chúng ít ra vẫn nhận thức được một điều: nỗi sợ hãi. Sợ đau và sợ chết."

"Nhảm nhí," Rainsford phá lên cười ha hả. "Cái tiết trời oi bức này đã biến anh thành kẻ ủy mị mất rồi, Whitney ạ. Thực tế lên đi. Phàm ở đời, chúng sinh chỉ bao gồm hai tầng lớp thôi: kẻ đi săn và kẻ bị săn. May mắn thay, tôi với anh thuộc tầng lớp thợ săn. À mà chúng ta đã đi qua cái đảo Bẫy Tàu đó chưa nhỉ?"

"Tối thế này thì biết sao được. Hy vọng qua rồi."

"Tại sao thế?" Rainsford hỏi.

"Hòn đảo này trứ danh lắm. Toàn tiếng dữ thôi."

"Có thổ dân ăn thịt người à?"

"Không đâu. Đến thổ dân cũng không dám sống ở cái chốn quỷ tha ma bắt đó. Nhưng chẳng hiểu sao, nó lại vẫn lọt được vào truyền thuyết của cánh thủy thủ. Anh không thấy hôm nay thủy thủ đoàn có vẻ hơi bồn chồn sao?"

"Giờ anh nhắc tôi mới nhận ra, quả đúng là có chuyện ấy thật. Đến cả thuyền trưởng Nielson…"

"Vâng, ngay cả cái lão Thụy Điển thần kinh thép, thừa gan xộc đến hỏi xin diêm vương tí lửa châm thuốc kia cũng thế. Chưa bao giờ tôi thấy cặp mắt xanh mờ mờ của lão trông như hôm nay. Tôi cố gặng hỏi thì cũng chỉ thu về được câu 'Chốn này là tổ quỷ đối với dân đi biển, thưa ngài.' Thế rồi lão làm mặt nghiêm trọng nói với tôi rằng, 'Ngài không cảm thấy gì sao?' Cái giọng lão lúc đấy nghe như thể quanh đây toàn âm khí. Nói thế này anh đừng cười nhé: đúng lúc đó, tôi thực sự cảm thấy buốt lạnh.

Bấy giờ, trời không chút gió. Mặt biển phẳng lặng như gương. Khi đấy, tàu chúng ta đang đến gần đảo. Thứ tôi cảm thấy là… là cái lạnh trong tâm can; tựa như đột nhiên hoảng sợ vậy."

"Thần hồn nát thần tính đấy mà," Rainsford bảo. "Chỉ một thủy thủ mê tín dị đoan thôi là đủ để lây cơn sợ ra cả tàu rồi."

"Có lẽ vậy. Nhưng đôi khi, tôi không khỏi cảm thấy dân thủy thủ lão như sở hữu một giác quan thứ sáu, giúp báo cho họ biết mình đương gặp nguy hiểm. Đôi khi, tôi nghĩ cái ác là một thứ hữu hình, có cả bước sóng như âm thanh hay ánh sáng vậy. Và những tổ quỷ thường phát ra tần số sóng ma quái. Nhưng thôi, dù gì tôi cũng mừng là chúng ta đã thoát ra khỏi vùng đó. Tôi đi ngủ đây, Rainsford ạ."

"Tôi thì chưa thấy buồn ngủ," Rainsford nói. "Tôi ra khoang sau hút thuốc đây."

"Vậy thì chào nhé, Rainsford. Ăn sáng gặp sau."

"Ừ. Ngủ ngon nhé, Whitney"

Rainsford ngồi đó. Không gian lặng như tờ, chỉ còn tiếng động cơ trầm trầm đẩy con tàu rẽ đêm đi tới, hòa với tiếng chân vịt quạt nước bì bõm.

Rainsford ngả người vào chiếc ghế dựa, nhàn nhã rít từng hơi thuốc từ chiếc tẩu yêu thích. Nàng đêm nhẹ nhàng ngả người lên lòng anh, mang đến một sự gà gật yêu kiều. "Đêm đen thế này," anh nhủ thầm, "thì chẳng cần nhắm mắt cũng vẫn ngủ tốt; bóng tối kia sẽ là mí mắt ta…"

Bất chợt, một âm thanh khiến Rainsford giật bắn mình. Nó vọng đến từ bên phải, và sành sỏi như anh thì không có chuyện nghe nhầm được. Anh lại thấy tiếng động ấy vang lên, rồi lại thêm một lần nữa. Đâu đó ngoài kia, trong cái tăm tối bủa vây, có người vừa nổ liền ba phát súng.

Rainsford bật dậy và vội xộc tới bên lan can, lòng đầy hoang mang. Anh căng mắt dõi về hướng tiếng súng vọng đến, ngặt nỗi làm vậy chẳng khác nào cố nhìn xuyên qua một tấm mền cả. Anh đu mình lên lan can và đứng chông chênh trên đó, hòng nhìn được cao hơn. Trong lúc trèo, chiếc tẩu của anh quệt phải một sợi chão, và văng đi mất. Anh nhào người chụp lại nó, nhưng chợt nhận thấy mình đã rướn quá xa và đang mất thăng bằng; một tiếng kêu khàn đặc đầy ngắn ngủi vuột ra khỏi miệng anh, trước khi tắt lịm lúc anh bị những đợt sóng cồn ấm nóng của biển Caribe nuốt chửng.

Rainsford quơ quào trồi lên khỏi mắt nước, ráng sức kêu cứu. Nhưng đáp lại anh là một phát vả vào mặt từ những con sóng do hông thuyền hất sang. Nước muối tràn vào cái mồm đang há, khiến anh sặc và ngộp thở. Hoảng loạn, anh hùng hục quạt tay bơi, đuổi theo vệt sáng đang bé dần trên tàu. Tuy nhiên, chỉ dăm mét sau, anh đã ngừng lại. Lý trí minh mẫn đã quay về với anh; đây không phải là lần đầu anh lâm vào nghịch cảnh. Cũng có khả năng người trên tàu sẽ nghe được tiếng anh đấy, nhưng cơ hội đó mong manh khôn cùng, chưa kể còn đang càng lúc càng lụi tắt. Anh chật vật lột bỏ bớt quần áo, gom hết hơi sức và gào lên kêu cứu.

Ánh sáng từ con tàu vẫn cứ lập lòe như đóm đóm, mờ dần trước khi bị màn đêm hoàn toàn nuốt chửng.

Những tiếng súng lúc trước bỗng lóe lên trong đầu Rainsford. Chúng vọng lại từ bên phải. Và thế là với những sải tay chậm rãi, thong thả, căn sao cho ít hao sức nhất, anh kiên trì bơi về phía đó. Suốt một hồi lâu, ngỡ tưởng dài đến bất tận, Rainsford cứ vật lộn với đại dương như thế. Anh bắt đầu đếm từng sải; chắc anh sẽ bơi thêm được một trăm sải nữa, sau đó thì…

Rainsford nghe thấy một âm thanh lạ. Nó vang lên từ trong bóng tối, một tiếng rú cao lanh lảnh, tiếng một con thú đang đau đớn và hoảng sợ cực điểm.

Anh không biết đó là con gì, mà cũng chẳng buồn quan tâm. Như được tiếp thêm sức lực, anh bơi về phía âm thanh đó. Anh lại nghe thấy cái tiếng rú kia, thế rồi đột ngột, một âm thanh khác đanh gọn hơn khiến nó tắt lịm.

"Tiếng súng lục" Rainsford lẩm bẩm, vẫn tiếp tục bơi.

Sau mười phút đầy cố gắng, một âm thanh khác lại lọt vào tai người thanh niên, khiến anh mừng rỡ khôn cùng: tiếng sóng rì rào vỗ vào bờ đá. Phải khi đã gần va trúng vách đá tới nơi, anh mới nhìn thấy nó. Đêm hôm ấy, biển chỉ cần hơi động hơn thôi là anh gặp nạn rồi. Với chút tàn lực cuối cùng, Rainsford kéo mình ra khỏi làn nước cuộn. Vách đá lởm chởm vươn cao, chìm dần vào trong hư ảo; anh gồng người trèo, tay trái đưa lên rồi đến tay phải. Khi sờ được đến chỗ đất bằng trên đỉnh, tay anh đã nát bấy, miệng thở hổn hển. Rừng rậm dày đặc trải dài đến tận gờ vách. Trong mớ bòng bong những cành lá và bụi rậm kia, chẳng ai biết có những mối nguy hiểm nào đang rình rập. Song khi ấy, Rainsford không chút bận tâm. Hiện anh chỉ biết mình đã thoát được khỏi kẻ tử thù là đại dương, và anh đang mệt rã cả người. Anh nằm vật xuống ngay mép rừng, thế rồi cắm đầu vào giấc ngủ sâu nhất trong đời.

PHẦN II

Lúc tỉnh dậy, anh nhìn mặt trời và áng chừng hiện đã là chiều muộn. Giấc ngủ đã ban cho anh nguồn sinh lực mới, đồng thời cả một cơn đói cồn cào. Anh nhìn ngó quanh quất, bộ dạng khá tươi tỉnh.

"Có tiếng súng nghĩa là có người. Có người nghĩa là có đồ ăn," Anh nghĩ thầm. Nhưng quan trọng là loại người nào lại đi sống ở cái nơi hoang vu này? Ven bờ, rừng rú đan xen đặc nghẹt tựa một bức lũy dằng dặc, lởm chởm và rối rắm.

Không thấy bóng dáng lối mòn nào xuất hiện dưới nùi cỏ cây chằng chịt cả; đi ven bờ biển sẽ dễ hơn, và Rainsford quyết định lội dọc mép nước. Đi chưa xa chỗ gốc được bao lăm, anh đã lại dừng chân.

Từng có một con thú bị thương quẫy đạp trong bụi rậm ở đây, và căn cứ vào các dấu tích nó để lại, con vật xem chừng khá lớn. Nguyên một vùng cỏ cây đã bị đè nát, trong khi lớp rêu phủ bị cạo nhẵn mấy chỗ, chưa kể một mảng cỏ còn đã thấm đẫm máu nữa. Bỗng Rainsford để ý thấy nằm ngay gần đó là một vật nho nhỏ, lấp loé hắt nắng. Anh nhặt nó lên. Là một vỏ đạn rỗng.

"Đạn cỡ 22." Anh lẩm bẩm "Kỳ dị thật. Con mồi ắt hẳn phải to ra trò chứ chẳng đùa đâu. Nghênh chiến với nó bằng súng nhỏ cỡ ấy thì chỉ có hạng gan hùm mới dám làm. Rõ là con vật đã kháng cự rất quyết liệt. Ba phát đạn đầu mình nghe thấy chắc để lùa nó và bắn què nó thôi. Phát cuối được khai hỏa tại đây, kết liễu luôn con vật, sau khi người thợ săn đã lần theo dấu vết của nó."

Rainsford thận trọng rà soát mặt đất, và đúng như đã hy vọng, anh phát hiện ra dấu ủng đi săn. Chúng chạy dọc vách đá, trùng với hướng anh nãy giờ đã đi. Lòng đầy phấn khởi, anh mau chân bước, thỉnh thoảng lại vấp chân vào mảnh gỗ mục hoặc hòn đá nứt nẻ, song hành trình nhìn chung vẫn tiến triển tốt. Nắng hiện đã bắt đầu nhạt dần, nhường chỗ cho màn đêm.

Khi tăm tối mịt mù bắt đầu che khuất biển rừng, Rainsford rẽ qua một khúc quanh ven biển, và trông thấy ánh đèn. Mới đầu, anh đinh ninh mình đã đặt chân đến một ngôi làng nào đó, bởi lẽ đèn đuốc thắp lên rất nhiều. Nhưng sau một hồi vạch rừng đi tới, anh vô cùng sửng sốt nhận ra mọi nguồn sáng đều đến từ một căn nhà đồ sộ. Đây là cả một công trình kiến trúc cao ngất, với những tòa tháp nhọn vòi vọi vươn mình dưới cái âm u. Anh lờ mờ trông thấy bóng dáng một lâu đài nguy nga, nằm trên một con dốc cao, bao quanh bởi những gờ đá thẳng đứng, bổ nhào xuống nơi biển đang le lưỡi liếm láp trong đêm.

"Ảo giác rồi." Rainsford nghĩ thầm. Nhưng lúc mở cánh cổng sắt khổng lồ đầy cọc rào nhọn hoắt ra, anh nhận thấy đây chẳng phải ảo giác gì cả. Những bậc thang đá kia là thật; ô cửa khổng lồ với bộ vòng gõ mang hình quái thú lừ mắt kia là thật; ấy nhưng bên trên tất cả, một hương hình ảo ảnh vẫn cứ phảng phất.

Rainsford nhấc vòng gõ lên. Nó vọng lên tiếng kẽo kẹt như thể chưa bao giờ được dùng tới. Anh buông tay, và tiếng uỳnh ồn ã nó phát ra khi đập vào cửa khiến anh giật bắn cả mình. Anh có cảm tưởng mình nghe thấy bên trong có tiếng chân bước. Tuy nhiên, cánh cửa vẫn đóng im ỉm. Rainsford lại nhấc chiếc vòng nặng trịch lên và thả cho nó rơi. Đúng lúc ấy, cánh cửa chợt bật mở, thình lình như thể bật ra từ lò xo. Đột nhiên bị đắm trong dòng sáng vàng chóe, Rainsford nheo hết mắt lại. Khi hoàn hồn, thứ đầu tiên anh nhìn ra là một người đàn ông cao lớn chưa từng thấy - một sinh vật khổng lồ, người ngợm vạm vỡ, trên mặt là một bộ râu đen nhánh, dài ngang thắt lưng. Gã cầm trong tay một khẩu súng lục nòng dài, và nó đang chĩa thẳng vào tim anh.

Chìm giữa nùi râu rậm rạp ấy là hai con mắt bé tí, bấy giờ đang lom lom nhìn Rainsford.

"Xin chớ lo," vừa nói, Rainsford vừa cố nặn ra một nụ cười anh hy vọng sẽ giúp xoa dịu tình hình. "Tôi không phải là phường trộm cướp. Tôi bị ngã khỏi tàu. Tên tôi là Sanger Rainsford, từ New York lạc đến."

Vẻ thù địch trong cặp mắt không hề lui bớt. Cây súng vẫn chĩa thẳng đơ, tựa hồ gã khổng lồ kia là một pho tượng. Không có dấu hiệu nào cho thấy gã hiểu hay thậm chí bỏ vào tai đến một lời của Rainsford. Gã diện trên người bộ đồng phục màu đen viền da cừu xám.

"Tên tôi là Sanger Rainsford, từ New York lạc đến," Rainsford lặp lại. "Tôi bị ngã khỏi tàu và đang đói lả."

Đáp lại, hành động duy nhất của gã là lấy ngón cái kéo búa kim hỏa. Thế rồi Rainsford thấy bàn tay không cầm gì của gã đưa lên trán, tạo thành thế chào kiểu nhà binh, trong khi gót chân gã gõ cốp lại đứng nghiêm. Bây giờ, đến lượt một người khác bước xuống các bậc đá cẩm thạch to bè. Người này cao, gầy, áo quần rất lịch sự. Ông ta tiến đến trước mặt Rainsford và chìa tay ra. Với chất giọng đầy nho nhã kèm chút đớt âm, giúp gợi cảm giác cẩn trọng và chuẩn xác, người kia nói, "Thật vinh hạnh khi được chào đón một thợ săn lừng danh như anh đến chơi nhà, thưa anh Sanger Rainsford."

Theo bản năng, Rainsford bắt tay ông ta.

"Chẳng là tôi đã đọc cuốn sách kể về chuyến săn báo tuyết ở Tây Tạng của anh ấy mà." Ông ta giải thích. "Xin tự giới thiệu, tôi là Đại tướng Zaroff."

Ấn tượng đầu tiên của anh về viên đại tướng là ngoại hình điển trai đến ngỡ ngàng của ông ta. Ấn tượng thứ hai là gương mặt con người này toát lên một vẻ đầy cá tính, gần như là dị thường. Người đàn ông cao kều đó hẳn đã quá tuổi trung niên, bởi lẽ mái tóc ông ta đã bạc trắng hoàn toàn, song cặp lông mày cùng bộ râu nhà binh tỉa nhọn của ông ta lại đen nhánh, chẳng khác nào màn đêm Rainsford từng ở trong. Cả mắt ông ta cũng đen láy, sáng quắc. Ông ta sở hữu cặp gò má nhô cao, chiếc mũi sắc cạnh, và gương mặt gầy gò, rám nắng - dung mạo một con người nắm quyền hành trong tay, dung mạo một nhà quý tộc. Viên đại tướng quay sang gã khổng lồ mặc quân phục và ra dấu. Thế là gã liền thu súng lại, giương tay chào, sau đó rút đi.

"Ivan khỏe mạnh hiếm ai địch nổi," viên đại tướng nói, "khốn nỗi hắn vừa câm lại vừa điếc. Tên này cũng thật thà, nhưng tôi e rằng bản tính hắn hơi man rợ chút, hệt như đồng bào của hắn thôi."

"Anh ta là người Nga à?"

"Dân Cô-dắc," viên đại tướng đáp. Đôi môi đỏ chót của ông ta nhoẻn một nụ cười, phô ra hàm răng nhọn hoắt. "Cùng quê tôi đấy."

"Vào nhà đã," ông ta nói, "cứ tiếp tục tán gẫu ở đây thật không phải phép. Lát nói chuyện sau cũng được. Bây giờ anh cần quần áo mới, thức ăn, và nghỉ ngơi. Anh sẽ được chu cấp đầy đủ. Không nơi nào thoải mái như đây đâu."

Ivan lại xuất hiện. Vị đại tướng mấp máy môi trò chuyện với gã mà không phát ra tiếng nào.

"Phiền anh theo chân Ivan nhé, anh Rainsford," Ông tướng nói. "Tôi đang chuẩn bị dùng bữa thì anh đến. Tôi sẽ vào đợi trước. Áo quần của tôi chắc sẽ vừa với anh đấy."

Rainsford theo chân gã khổng lồ lầm lì bước vào một căn phòng ngủ khổng lồ với mái trần lộ giầm, và bên trong đặt chiếc giường rủ màn đủ lớn cho sáu người cùng nằm. Ivan bày ra một bộ y phục trang trọng. Khi khoác lên mình bộ cánh đó, Rainsford nhận ra nó do một thợ may có tiếng ở London thiết kế, người từ trước đến nay chưa từng phục vụ ai dưới tước công hầu.

Phòng ăn Ivan dẫn anh vào tuyệt mỹ khó tả. Nơi đây mang nét tráng lệ thời Trung Cổ, gợi cho người ta cảm giác như đang đứng trong đại sảnh phong kiến xưa với các tấm ốp gỗ sồi, khung trần cao rộng, những chiếc bàn ăn đủ to để bốn mươi người cùng ngồi dự yến. Tường vách xung quanh treo đầy đầu thú vật: sư tử, hổ, voi, hươu, gấu; chưa kể một số loài đẹp đẽ Rainsford chưa một lần mục sở thị. Ngồi một mình bên bàn là viên đại tướng kia.

"Anh dùng cốc-tai chứ, anh Rainsford?" Viên đại tướng mời. Ly cốc tai ấy ngon ngoài sức tưởng tượng; đồng thời, Rainsford cũng để ý thấy mọi vật bày biện trên bàn - từ chiếc khăn trải lụa, những món đồ thủy tinh, dao kéo, cho đến bát đĩa sứ - toàn là đồ hảo hạng.

Họ cùng thưởng thức booc-sơ, món súp đỏ ăn kèm kem đặc quen thuộc của dân Nga. Ý chừng muốn cáo lỗi, viên đại tướng nói, "Tại đây, chúng tôi luôn cố sức gìn giữ phần nào nét văn minh. Nếu có gì sơ suất, xin anh hãy bỏ quá cho. Kể ra chúng tôi cũng đâu được sống tại nơi sầm uất. Chỗ sâm panh chắc chưa mất vị do phải chuyển vượt đại dương đâu nhỉ?"

"Chưa mất chút nào hết," Rainsford trả lời. Trong mắt anh, viên đại tướng là một người chủ nhà tận tâm và hiếu khách nhất trần đời, một con người lịch duyệt mẫu mực, từng chu du khắp bốn bể. Tuy nhiên, vẫn có nét gì đó ở viên đại tướng khiến người thanh niên không khỏi bận lòng. Cứ mỗi lần ngước lên, Rainsford lại thấy viên đại tướng đang kín đáo nhìn anh, ra chiều đánh giá rất tỉ mẩn.

"Có lẽ," Đại tướng Zaroff nói, "hồi nãy anh khá ngạc nhiên khi thấy tôi nhận ra quý danh mình. Xin mạn phép kể anh nghe, tôi đã đọc hết mọi cuốn sách về săn bắn của cả Anh, Pháp, và Nga. Đời này tôi chỉ có một đam mê duy nhất, ấy chính là đi săn, anh Rainsford ạ."

"Ngài có những tiêu bản thật tuyệt vời," Vừa thưởng thức món thăn bò tuyệt ngon, Rainsford vừa đáp. "Cái đầu bò rừng Châu Phi kia có lẽ là thứ lớn nhất mà tôi từng được chiêm ngưỡng."

"À, cái con đó. Vâng, nó là hạng quái thú chứ chẳng chơi đâu."

"Nó có xổ vào người ngài không?"

"Nó liệng tôi vào một gốc cây," viên đại tướng kể lại "Làm tôi nứt cả hộp sọ. Nhưng cuối cùng tôi vẫn hạ được con quái đấy."

"Tôi luôn nghĩ rằng," Rainsford đưa lời, "dưới gầm trời này chẳng có con mồi nào nguy hiểm ngang bò rừng Châu Phi cả."

Viên đại tướng im lặng trong giây lát; cặp môi đỏ hồng của ông ta lại nhếch lên thành nụ cười đầy bí ẩn. Thế rồi ông ta chậm rãi nói, "Không. Anh sai rồi. Bò rừng Châu Phi chưa phải con mồi nguy hiểm nhất đâu." Ông ta nhấp một ngụm rượu. "Trên hòn đảo này," ông ta vẫn nói với cái giọng từ tốn ấy, "tôi còn săn những con mồi nguy hiểm gấp bội."

Rainsford ngẩn người ra, "Trên đảo này có mồi dữ sao?"

Viên đại tướng gật đầu. "Dữ nhất trần đời."

"Thật à?"

"À, tất nhiên loài đó không phải là cư dân bản địa của hòn đảo này. Tôi phải nhập từ nơi khác về."

"Ngài nhập con gì về vậy, thưa đại tướng?" Rainsford hỏi "Hổ ư?"

Viên đại tướng cười. "Không," ông ta nói. "Tôi mất hứng với chúng từ mấy năm trước rồi. Tôi đã vắt kiệt mọi tinh chất từ chúng. Hổ chẳng còn chút thú vị, chút nguy hiểm nào cả. Trong khi đó, tôi thì là con người ưa nguy hiểm, anh Rainsford ạ."

Viên đại tướng lấy từ trong túi áo ra một hộp thuốc lá vàng và lịch sự mời khách một điếu đen tuyền với đầu hút bằng bạc; nó được ướp thơm phức mùi hương trầm.

"Rồi chúng ta sẽ cùng nhau đi săn một bữa ra trò," Viên đại tướng nói. "Tôi sẽ rất hân hạnh nếu có anh làm bạn đồng hành."

"Nhưng chính xác thì chúng ta săn…" Rainsford dợm hỏi.

"Để tôi kể," Viên đại tướng ngắt lời "Hẳn anh sẽ thấy thú vị lắm đấy. Nói thế này thì không được khiêm nhường lắm, nhưng tôi tin rằng mình đã thực hiện một điều xưa nay hiếm. Tôi đã phát minh ra cả một trải nghiệm mới. Anh dùng thêm rượu nhé?"

"Xin cảm ơn, thưa đại tướng."

Viên đại tướng rót đầy hai ly rượu trước khi nói tiếp, "Có kẻ Chúa cho làm thi sĩ. Có kẻ làm vua, có kẻ ăn mày. Riêng tôi thì đã được Người cho làm thợ săn. Cha tôi bảo tay tôi sinh ra là để cầm súng. Ông cụ là một người rất giàu, sở hữu 250.000 mẫu đất tại Krưm, và ông cũng là một người thợ săn đầy nhiệt huyết. Khi tôi mới lên năm, cha đã tặng tôi một khẩu súng tí hon, được đặt làm riêng từ Matxcơva để bắn chim sẻ. Cái lần tôi nhỡ bắn trúng lũ gà tây quý của cha, ông không buồn trách phạt tôi mà lại khen ngợi tài bắn của tôi. Năm mười tuổi, tôi hạ con gấu đầu tiên trong sự nghiệp ở vùng Cáp-ca. Cả cuộc đời tôi là một cuộc săn dài. Như những cậu ấm khác, tôi nhập ngũ, và có đợt còn làm chỉ huy cả một đơn vị kỵ binh Cô-dắc. Tuy nhiên, săn bắn vẫn luôn là niềm đam mê thực sự của tôi. Tôi đã săn mọi loài vật ở mọi phương trời. Giờ bắt kể lại chắc tôi cũng không thể nhớ hết được mình đã hạ những loài nào đâu."

Viên đại tướng rít điếu thuốc.

"Sau vụ loạn lạc tại Nga, tôi rời quê. Tướng dưới quyền Sa hoàng mà nấn ná ở lại thì thật không khôn ngoan chút nào. Rất nhiều quý tộc Nga đã trở nên trắng tay. Tôi thì may mắn hơn vì đã đổ khá nhiều tiền vào chứng khoán Mỹ, nhờ đó mà không đến nỗi phải đi mở quán cà phê ở Monte Carlo hay lái taxi tại Paris. Lẽ dĩ nhiên, tôi lại dấn thân vào các cuộc săn. Gấu xám ở dãy Rocky, cá sấu ở sông Hằng, tê giác ở Đông Phi. Đó cũng là nơi tôi bị con bò rừng Châu Phi kia bắt nằm viện suốt sáu tháng trời. Sau khi hồi phục, tôi lao ngay sang Amazon để săn báo đốm vì nghe đồn chúng rất xảo quyệt. Hóa ra lại không phải." Viên đại tướng Cô-dắc thở dài "Chúng vô phương địch lại một người thợ săn với cái đầu thông minh cùng khẩu súng trường cực mạnh. Tôi bị một phen thất vọng ê chề. Một tối nọ, đang nằm dài trong lều với cơn đau đầu như búa bổ thì chợt một ý nghĩ kinh khủng len lỏi vào đầu óc tôi: săn bắn đã trở nên nhàm chán! Xin hãy nhớ rằng từ trước đến nay, săn bắn là cả cuộc đời của tôi. Tôi đã nghe kể rằng tại Mỹ, nhiều doanh nhân đã suy sụp hoàn toàn khi phải từ bỏ công việc kinh doanh của đời mình."

"Vâng, quả đúng vậy," Rainsford nói.

Viên đại tướng mỉm cười. "Tôi không để muốn để mình suy sụp." Ông ta nói "Tôi phải làm gì đó. Anh Rainsford ạ, đầu óc tôi giỏi phân tích lắm. Hẳn chính vì thế nên tôi mới đam mê giải những bài toán hóc hiểm trong cuộc săn."

"Hẳn rồi, thưa Đại tướng Zaroff."

"Vậy nên," ông ta nói tiếp, "tôi tự hỏi bản thân rằng lý do nào khiến những cuộc săn không còn làm mình hứng thú nữa. Anh là một người trẻ tuổi hơn tôi rất nhiều, anh Rainsford ạ, và quãng thời gian đi săn của anh cũng chưa được nhiều như tôi, nhưng có lẽ anh đoán được câu trả lời cho câu hỏi của tôi chăng?"

"Tôi chịu thôi."

"Đơn giản thế này: săn bắn đã không còn là một 'thú vui thể thao' nữa. Nó đã trở nên quá dễ. Tôi luôn tóm được con mồi của mình. Luôn luôn. Còn gì nhàm chán hơn sự hoàn mỹ đâu."

Viên đại tướng châm một điếu thuốc mới.

"Không con vật nào còn có thể thoát khỏi tay tôi nữa. Đây không phải nói ngoa mà là một sự thật hiển nhiên. Lũ thú chỉ có độc cặp chân cùng bản năng thuần túy. Bản năng thì sao đối chọi nổi với lý trí suy tính nào? Thú thật với anh rằng khi tìm ra được lý do, tôi đã có một khoảnh khắc không dễ chịu chút nào."

Rainsford hơi chúi người tới trước một chút, chăm chú lắng nghe câu chuyện của vị gia chủ.

"Chính ý nghĩ đó đã giúp tôi nảy ra một ý tưởng về điều cần làm." Viên đại tướng nói tiếp.

"Và đó là..?"

Viên đại tướng lặng lẽ mỉm cười, nụ cười của một người từng chạm trán chông gai song đã xoay xở chinh phục được nó. "Tôi đã phải nghĩ ra một loài thú mới để đi săn." Ông ta nói.

"Một loài thú mới ư? Ngài chắc hẳn đang đùa."

"Không hề." Viên đại tướng gạt phắt đi. "Tôi không bao giờ lấy săn bắn ra làm đề tài cợt nhả. Tôi cần một loài thú mới. Tôi đã tìm ra nó. Thế nên tôi mua hòn đảo này, cho xây dinh cơ này, và tiến hành đi săn ở đây. Hòn đảo này có mọi thứ tôi cần: những cánh rừng với nguyên một mê hồn trận đường mòn, đồi núi, đầm lầy…"

"Nhưng còn loài thú kia thì sao, Đại tướng Zaroff?"

"Ồ," Ông ta đáp, "chúng mang lại cho tôi trải nghiệm săn bắn thú vị nhất trần đời. Không cuộc săn nào sánh bằng với nó. Giờ tôi có thể đi săn hằng ngày với niềm vui thích không bao giờ cạn, bởi con mồi mới ấy có thể đấu trí cùng tôi."

Nét bối rối hiển hiện trên gương mặt Rainsford.

"Tôi muốn một con mồi lý tưởng," Viên đại tướng giải thích. "Vậy là tôi tự hỏi, 'Con mồi lý tưởng phải có những đặc điểm gì? Tất nhiên, câu trả lời là, 'Sự táo bạo, ranh ma, và trên hết là phải biết tư duy.'"

"Nhưng có loài nào biết tư duy đâu." Rainsford phản bác.

"Anh bạn thân mến của tôi ơi," viên đại tướng khẳng định, "có một loài đấy."

"Chẳng lẽ ý ngài lại là…" Rainsford há hốc mồm.

"Tại sao không nhỉ?"

"Tôi không tin là ngài đang nói nghiêm túc, Đại tướng Zaroff ạ. Thật là một trò đùa đáng kinh tởm."

"Sao lại không nghiêm túc được? Tôi đang nói về săn bắn mà."

"Săn bắn ư? Trời đất quỷ thần ơi, Đại tướng Zaroff, ông đang nói đến chuyện giết người đấy."

Lão tướng bật cười với vẻ rất đỗi hiền hòa. Lão nhìn Rainsford, điệu bộ ra chiều khó hiểu. "Khó có thể tin một thanh niên tân thời và văn minh như anh lại có thể mang trong đầu những tư tưởng sặc mùi lãng mạn về giá trị của con người. Chắc hẳn những gì anh đã kinh qua trong chiến tranh…"

"Không biến tôi thành một tên sát nhân máu lạnh." Rainsford nói thẳng băng.

Lão tướng cười rung cả người, "Anh hài hước quá đi!" Lão nói. "Ai mà ngờ được thời nay, một thanh niên ăn học đầy đủ lại có thể có những ý nghĩ ngây thơ hay, mong anh lượng thứ cho, cổ lỗ sĩ đến vậy, kể cả ở một đất nước như Mỹ? Khác nào lên xe xịn mà bắt gặp hộp thuốc hít đâu. Ôi chà, rõ ràng anh mang gốc Thanh giáo rồi. Dù sao nhiều người Mỹ cũng từng là dân Thanh giáo mà. Tôi dám đánh cược rằng khi đi săn với tôi, anh sẽ quên phéng hết các quan điểm của mình đấy. Cả một chân trời phấn khích mới mẻ đang chờ đợi anh đấy, anh Rainsford ạ."

"Thôi, tôi xin kiếu. Tôi là thợ săn, không phải kẻ sát nhân."

"Ôi trời," lão tướng vẫn không chút nóng nảy, "lại là cái từ nặng nề đó. Tuy nhiên, tôi tin mình có thể chứng minh cho anh thấy rằng anh đang chỉ cứng đầu vô cớ thôi đấy."

"Thật thế ư?"

"Thế giới này dành cho kẻ mạnh. Nó là nơi đất sống của kẻ mạnh, và, trong trường hợp cần thiết, do kẻ mạnh đoạt lấy. Trần đời này, kẻ yếu được tạo ra chỉ nhằm mục đích thỏa mãn thú vui cho kẻ mạnh. Tôi là kẻ mạnh. Tại sao tôi lại không nên tận dụng món quà trời ban cho mình? Nếu tôi muốn đi săn, tại sao tôi lại không thể chứ? Tôi săn toàn phường cặn bã: bọn thủy thủ tàu rông - Ấn, da đen, Tàu, da trắng, người lai, đủ cả. Hai chục bọn này cộng lại cũng chưa bằng một con ngựa tốt hay một con chó săn."

"Nhưng họ là con người." Rainsford nổi nóng.

"Chính xác." Lão tướng đáp. "Đó là lý do tôi dùng chúng. Chúng mang lại cho tôi niềm vui. Chúng biết tư duy một chút. Thế nên chúng nguy hiểm."

"Nhưng ông kiếm người kiểu gì?"

Lão tướng nháy mắt. "Tên hòn đảo này là Bẫy Tàu." Lão đáp "Thi thoảng, một vị thần biển hung dữ lại phái vài tên đến chỗ tôi. Đôi khi, vào những lần Đấng Toàn Năng không có bụng hào phóng, tôi tự ra tay giúp Người một chút. Đến đây nào, ra cửa sổ với tôi đi."

Rainsford lại chỗ khung cửa và phóng mắt về phía đại dương.

"Nhìn đi! Đằng kia kìa!" Lão tướng chỉ tay vào màn đêm. Thoạt tiên, Rainsford chẳng thấy gì ngoài bóng tối vô tận. Nhưng rồi, ngay khi lão tướng bấm một công tắc, Rainsford chợt thấy một luồng sáng bừng lên tít phía ngoài xa.

Lão tướng cười khằng khặc. "Nó báo chỗ đó có kênh đào," Lão nói, "nhưng thực tế chẳng có đâu. Những mỏm đá khổng lồ, sắc bén đang nằm phục sẵn tại đấy, tựa một con thủy quái với bộ hàm ngoác rộng. Đối với chúng, nghiền nát tàu bè cũng dễ dàng như tôi nghiền nát quả hồ đào này thôi." Lão thả quả hồ đào xuống sàn gỗ và đạp chân xuống, nghiến nó răng rắc. "À vâng," lão thản nhiên nói như thể đang đáp lại một câu hỏi, "Tôi có điện. Ở đây, chúng tôi cố giữ nếp văn minh mà."

"Văn minh? Văn minh mà lại lấy bắn giết con người làm trò vui ư?"

Một ánh lửa giận dữ vụt lóe trong cặp mắt đen của lão tướng, nhưng nó chỉ tồn tại trong giây lát. Bằng giọng nói êm ái nhất của mình, lão nói, "Lạy Chúa tôi, anh thực là một thanh niên chính trực! Tôi xin cam đoan với anh rằng tôi không làm những chuyện như anh nghĩ đâu. Thế man rợ quá. Tôi đối xử với đám đấy tử tế hết mức có thể. Họ được ăn uống, tập tành đầy đủ. Họ hoàn toàn khỏe mạnh. Ngày mai, anh sẽ được tận mắt chứng kiến."

"Ý ông là sao?"

"Chúng ta sẽ đi thăm nơi tập luyện của tôi," Lão mỉm cười. "Nó nằm dưới hầm. Trong đó có khoảng một tá người. Chúng là thuyền viên con tàu San Luca, đi từ Tây Ban Nha, vô phúc va phải những mỏm đá ngoài kia. Đáng tiếc mà nói, chúng chỉ là một lũ mạt hạng. Đây chẳng phải kiểu mồi tử tế gì cho cam, quen lê la boong tàu hơn là sống sót trong rừng." Lão tướng giơ tay ra hiệu, và Ivan, bấy giờ đang giữ vai trò phục vụ bàn, xuất hiện cùng một bình cà phê Thổ Nhĩ Kỳ đặc. Rainsford phải ráng lắm mới ghìm được miệng lưỡi mình lại.

"Đây là một trò chơi." Lão đại tướng ôn tồn nói tiếp. "Tôi đề xuất với một tên rằng chúng ta sẽ cùng tham gia một cuộc săn. Tôi cho hắn đầy đủ thức ăn và một con dao săn. Hắn được phép xuất phát trước ba tiếng. Tôi sẽ bám theo, trên người chỉ mang kèm một khẩu súng lục, loại từ cỡ đạn đến tầm bắn đều hết sức xoàng xĩnh. Nếu con mồi trốn tránh được tôi trong vòng ba ngày, hắn thắng. Còn nếu tôi tìm ra hắn…," lão tướng mỉm cười, "... hắn thua."

"Nếu anh ta từ chối làm vật bị săn thì sao?"

"À," Lão đáp "tôi cho chúng quyền lựa chọn chứ. Ai không muốn chơi sẽ không phải chơi. Nếu không muốn tham gia cuộc săn, hắn sẽ được bàn giao cho Ivan. Đã có thời Ivan vinh hạnh được làm quản ngục riêng của Sa hoàng, và anh ta có gu tiêu khiển riêng. Trăm lần như một, chúng đều sẽ chọn cuộc săn, anh Rainsford ạ. Trăm lần như một."

"Vậy nếu họ thắng?"

Nụ cười trên gương mặt Zaroff càng thêm toe toét. "Tới nay, tôi chưa từng thua," Lão nói, sau đó lại vội vàng bổ sung, "Mong anh đừng coi tôi là kẻ khoác lác. Hầu hết bọn chúng đều chỉ gây rối được chút đỉnh. Thỉnh thoảng tôi mới gặp phải trường hợp khó nhằn. Có lần một tên xém nữa thắng cuộc. Tôi phải viện tới lũ chó."

"Chó nào kia?"

"Xin mời qua đây. Tôi sẽ cho anh xem."

Lão tướng đưa Rainsford tới một cửa sổ khác. Ánh đèn nhập nhoạng tỏa ra từ khung cửa hắt xuống sân những hình thù quái đản, và Rainsford thấy đi lại loanh quanh dưới đó là khoảng một tá bóng đen to vật vã; khi quay lại phía anh, mắt của chúng ánh lên xanh lè.

"Đám này làm ăn ra trò lắm đấy." Lão tướng bình phẩm. "Cứ bảy giờ hàng đêm là chúng lại được thả ra đi dạo. Nếu ai định đột nhập vào nhà tôi hay đào tẩu khỏi đây, hắn sẽ gặp một tai nạn rất thảm khốc." Lão ngâm nga một khúc nhạc ngắn, một bài hát từng được biểu diễn tại Folies Bergere.

"Và giờ," lão nói tiếp, "hãy để tôi cho anh chiêm ngưỡng những tiêu bản đầu mới nhất của tôi. Xin mời anh theo tôi đến thư viện."

"Mong ngài lượng thứ," Rainsford viện cớ, "cho tôi được cáo lui, thưa Đại tướng Zaroff. Tối nay tôi cảm thấy không được khỏe lắm."

"Ồ, vậy sao?" Lão tướng ân cần hỏi "Thế cũng phải thôi. Dù sao anh cũng đã vất vả bơi hết một chặng đường dài để tới được đây. Anh cần ngủ cho đẫy giấc. Tôi đảm bảo hôm sau anh sẽ thấy mình như một con người khác thôi. Khi ấy chúng ta sẽ đi săn nhé? Tôi có một tên khá triển vọng…"

Rainsford hớt hải đi nhanh ra khỏi căn phòng.

"Thật đáng tiếc là anh không thể đi cùng tôi đêm nay," Zaroff gọi với theo. "Tôi tin cuộc săn hôm nay sẽ thú vị lắm đấy. Một tên da đen cao lớn, khỏe mạnh. Hắn có vẻ nhanh trí… Mà thôi, chúc anh ngủ ngon, anh Rainsford."

Giường thì êm, áo quần thì toàn lụa hảo hạng, chưa kể mọi thớ cơ trong người Rainsford đều uể oải rã rượi, ấy nhưng có bơm bao nỗi buồn ngủ vào đầu thì bộ óc anh vẫn không chịu ngơi nghỉ. Anh nằm đó, mắt mở thao láo. Có lần anh những tưởng mình nghe thấy tiếng chân rón rén bên ngoài. Anh thử mở tung cửa, nhưng nó không nhúc nhích. Anh lại chỗ cửa sổ nhìn ra ngoài. Phòng của anh ngự tít trên một ngọn tháp. Cả tòa lâu đài đã tắt đèn, không gian chìm vào tăm tối, tĩnh mịch; may là vẫn còn mảnh trăng non, và nhờ đó mà anh lờ mờ thấy được khoảnh sân. Trên đó, lượn qua lượn lại trong bóng đêm là những hình thù đen ngòm, không phát ra dù chỉ một tiếng động. Nghe thấy tiếng Rainsford bên cửa sổ, lũ chó săn ngước cặp mắt xanh lè lên nhìn đầy mong đợi. Rainsford ngay lập tức lùi về giường và nằm vật xuống. Anh tìm đủ cách để ép mình vào giấc ngủ. Lúc hơi chợp mắt được một chút thì bình minh cũng đã bắt đầu lên, và đúng vào khoảnh khắc đó, anh nghe thấy từ xa trong rừng, một tiếng súng nổ đanh gọn vang lên.

PHẦN III

Mãi cho đến trưa, Đại tướng Zaroff mới tái xuất hiện, ăn vận một bộ đồ vải tuýp tươm tất gọn gàng như bậc lãnh chúa. Lão hết sức quan tâm đến tình trạng sức khỏe của Rainsford.

"Riêng về phần mình," lão thở dài, "thì tôi chẳng thấy ổn gì cả. Tôi lo lắm, anh Rainsford ạ. Tối qua, tôi cảm thấy chút khó chịu cũ hiện trở về."

Nhận ra vẻ thắc mắc trên gương mặt Rainsford, lão trả lời, "Là buồn chán. Là tẻ nhạt ấy mà."

Sau khi lấy thêm đĩa bánh crêpes suzette thứ hai, lão lại nói, "Cuộc săn tối qua thật vớ vẩn. Tên kia sợ đến quẫn trí. Hắn chạy thẳng một mạch, chẳng gây chút khó khăn nào hết. Lũ thủy thủ toàn thế thôi. Bản thân chúng đã đần độn rồi, chưa kể còn không biết cách xoay xở trong rừng nữa. Chúng toàn làm những điều vô cùng ngu ngốc và rất hiển nhiên. Thật đến bực mình. Anh làm thêm một ly Chablis nữa nhé, anh Rainsford?"

"Đại tướng à," Rainsford nghiêm nghị nói, "tôi muốn rời khỏi hòn đảo này ngay."

Lão tướng nhướng đôi lông mày rậm rạp; trông lão ta có vẻ vừa bị xúc phạm, "Nhưng anh bạn thân mến ơi," lão phản đối, "anh vừa ghé chơi chưa được nóng chỗ mà. Anh còn chưa có dịp đi săn…"

"Tôi muốn được rời đi ngay hôm nay." Rainsford ngắt lời. Anh cảm thấy đôi mắt đen đầy chết chóc của lão tướng đang quan sát mình. Đột nhiên, mặt Đại tướng Zaroff sáng bừng lên.

Lão rót đầy thứ vang Chablis lừng danh vào ly của Rainsford.

"Tối nay," Lão nói "chúng ta sẽ tổ chức một cuộc săn. Tôi và anh."

Rainsford lắc đầu. "Không, thưa đại tướng," anh nói. "Tôi sẽ không đi săn cùng ngài đâu."

Lão tướng nhún vai và thong thả gặm miếng nho, "Tùy anh thôi," lão nói. "Quyền lựa chọn hoàn toàn nằm trong tay anh. Nhưng chẳng lẽ anh lại nghĩ cái thú của tôi không hấp dẫn bằng trò tiêu khiển của Ivan sao?"

Zaroff dứ đầu về phía góc nhà, nơi gã khổng lồ mặt mũi cau có đang đứng, tay khoanh chéo trước bộ ngực như cái thùng phi.

"Có phải ngài định…" Rainsford hoảng hồn.

"Anh bạn thân mến à," lão tướng nói, "chẳng phải tôi đã bảo mình không bao giờ lấy săn bắn ra làm đề tài cợt nhả sao? Thật là hứng khởi. Cuối cùng tôi cũng có một địch thủ xứng đáng. Xin cụng ly nào!" Lão tướng nâng ly ra ý mời, song Rainsford chỉ ngồi thừ ra đó, nhìn lão không chớp mắt.

"Anh sẽ thấy đây là cuộc chơi đầy lý thú," Lão phấn khích nói. "Bộ óc của anh đấu với bộ óc của tôi. Kỹ năng đi rừng của anh đấu với Kỹ năng đi rừng của tôi. Sức khỏe của anh đấu với sức khỏe của tôi. Một trận cờ ngoài trời! Và thứ được đem ra đặt cược chẳng vụn vặt gì đâu, đúng không nào?"

"Thế nếu tôi thắng…?" Rainsford khàn giọng hỏi.

"Tôi sẽ vui vẻ chấp nhận thất bại của mình nếu đến nửa đêm hôm thứ ba tôi vẫn không thể tìm ra anh," Tướng Zaroff nói. "Tôi sẽ cho anh lên thuyền đến thị trấn gần nhất."

Như vừa đọc được suy nghĩ của Rainsford, lão Cô-dắc đế thêm, "Anh có thể tin tưởng tôi. Tôi thề trên danh dự của một quý ông và một nhà đi săn thượng võ. Tất nhiên, đổi lại, anh cũng phải thề sẽ không hé răng nửa lời về chuyến viếng thăm của mình."

"Tôi không đảm bảo gì về chuyện đó hết." Rainsford đáp.

"Ôi," Lão tướng than. "trong trường hợp đó... Mà thôi, tại sao lại phải bàn luôn hôm nay nhỉ? Ba ngày nữa ta có thể ngồi nhâm nhi chai Veuve Cliquot và cùng thương lượng, trừ khi…"

Lão hớp một ngụm rượu.

Thế rồi phong thái lão chuyển sang sự vụ sự việc. "Ivan," Lão thông báo với Rainsford, "sẽ cung cấp cho anh quần áo, thực phẩm, cùng một con dao săn. Tôi khuyên nên đi giày da đanh, loại đó ít để lại dấu vết hơn. Tôi cũng thành thật khuyên anh đừng bén mảng đến gần vùng đầm lầy phía Đông Nam hòn đảo. Chúng tôi gọi nó là Đầm lầy Tử thần. Ở đó đầy cát lún. Đã có một tên đủ ngu ngốc để thử trốn vào nơi đó. Không may một điều là Lazarus đã theo chân hắn ta. Hẳn anh sẽ hiểu tôi thấy xót ruột nhường nào. Tôi cưng Lazarus lắm; nó là con chó săn cừ khôi nhất trong đàn mà. Giờ tôi xin phép nhé. Tôi luôn đi nghỉ một chút sau bữa trưa. Về phần anh thì tôi e là sẽ không có thời gian cho việc đó đâu. Anh chắc sẽ muốn khởi hành luôn. Tôi sẽ chỉ đuổi theo anh sau khi hoàng hôn buông xuống. Săn mồi ban đêm sẽ thú vị hơn nhiều. Au revoir, anh Rainsford, au revoir." Lão tướng nhã nhặn cúi gập người chào trước khi rảo bước ra khỏi phòng.

Từ một cánh cửa khác, Ivan tiến vào. Trên một tay, gã cầm quần áo đi săn, một túi lương thực, một con dao săn lưỡi dài tra bao da; tay còn lại gã đặt hờ lên khẩu súng lục đã lên đạn, nhét trong mảnh vải đỏ buộc quanh eo.

PHẦN IV

Rainsford vạch bụi rậm mà đi đã được hai tiếng rồi. "Phải thật bình tĩnh, mình phải thật bình tĩnh." Anh nghiến răng nhủ.

Lúc cặp cửa khổng lồ đóng sầm lại sau lưng, đầu óc người thanh niên hãy còn mụ mị. Mới đầu, anh toan chạy càng xa Đại tướng Zaroff càng tốt. Thế là anh cắm đầu cắm cổ chạy, lấy cơn hoảng loạn làm động lực. Giờ đây, khi đã tỉnh trí, anh dừng bước, kiểm điểm lại bản thân và tình hình hiện tại. Anh biết phóng theo một đường thẳng tắp chỉ tổ phí công vô ích; không sớm thì muộn, anh cũng sẽ bị biển cản lối. Anh đang bị kẹt trong một bức tranh bao quanh bởi khung nước, và rõ ràng, mọi động thái anh thực hiện sẽ đều phải bó hẹp trong cái bức tranh này.

"Ta sẽ cho lão ấy manh mối để lần theo," Rainsford lẩm bẩm, sau đó lao ra khỏi lối mòn mình đãn bám theo từ nãy giờ và tiến sâu vào rừng hoang. Anh tạo ra hàng loạt những vòng lặp phức tạp; nhớ lại kinh nghiệm từ những lần đi săn cáo, nhớ những chiêu trò con thú đã tung ra nhằm né tránh mình, anh liên tục lần ngược lại lối đã đi, không ngừng không nghỉ. Lúc đêm buông, Rainsford nằm gục bên một sườn núi cây cỏ dày đặc, chân cẳng đã mỏi nhừ, trong khi tay và mặt thì trầy trụa vết cành cây. Anh hiểu rằng cứ cố chạy bừa trong đêm thì chẳng khác nào tự sát, kể cả nếu anh còn sức. Giờ anh rất cần được nghỉ ngơi, và anh nghĩ thầm, 'Đóng vai cáo xong rồi, giờ phải bắt chước con mèo trong ngụ ngôn thôi.' Gần đó là một cái cây thân rất lớn, tán lá xòe rộng. Rainsford leo lên chạc cây, cẩn thận không để lại bất cứ dấu vết nào, sau đó duỗi người trên một cành to, và rốt cuộc cũng lấy hơi được tí chút. Nhờ được ngơi nghỉ, người thanh niên cảm thấy tự tin và ít nhiều an toàn. Anh nhủ thầm rằng đến cả một tay thợ săn dày dặn kinh nghiệm như Zaroff cũng chẳng đời nào mò thấy mình ở đây. Trong đêm tối như thế này, họa có quỷ sứ mới đủ sức lần theo tuyến đường nhập nhằng anh đã giăng ra trong rừng. Nhưng ai biết đâu đấy, có khi lão tướng chính là ác quỷ hiện hình…

Cái đêm kinh hoàng ấy lề mề trôi qua như một con rắn bị thương. Mặc dù khu rừng yên như chết, Rainsford vẫn chẳng ngủ nghê được gì. Khi một quầng xám mờ quết lên nền trời, báo hiệu ngày mới đang bắt đầu, Rainsford bất chợt để ý thấy đằng xa vang lên tiếng kêu thảng thốt của một con chim giật mình. Có thứ đang băng qua bụi rậm, chậm rãi và đầy thận trọng, tiến lại từ cùng con đường quanh co anh đã đến. Rainsford dán người xuống cành cây, và cố dõi mắt nhìn qua lớp lá dày như thảm thêu…

Thứ đang đến gần là một người đàn ông.

Đích thị Đại tướng Zaroff. Vừa đi, lão vừa dán chặt mắt xuống đất, bộ dạng tập trung cao độ. Lão dừng lại, gần như ngay gốc cây nơi Rainsford đang vắt vẻo bên trên, quỳ một chân xuống và săm soi nền đất. Bản năng hối thúc Rainsford nhảy bổ từ trên cây xuống như một con báo, nhưng anh thấy tay phải lão cầm thứ dụng cụ kim loại gì đó. Một khẩu súng lục tự động.

Lão thợ săn lắc đầu mấy lần liền, tựa hồ thấy bối rối. Thế rồi lão đứng thẳng lên và lôi một điếu thuốc lá đen từ trong hộp ra; cái mùi khói thuốc hăng hăng như hương trầm xộc thẳng lên mũi Rainsford.

Anh nín thở. Cặp mắt lão tướng đã rời mặt đất và đang nhích dần lên cây, từng phân, từng phân một. Rainsford đông cứng cả người, từng thớ cơ đều gồng căng, sẵn sàng nhào xuống. Nhưng rồi cặp mắt sắc lẻm của lão thợ săn ngưng lại trước khi liếc tới cành cây anh đang nằm; một nụ cười toét ra trên gương mặt sạm nâu của lão. Một cách vô cùng chậm rãi, lão phà một vòng khói lên không, sau đó quay lại lối cũ. Tiếng cỏ cây cọ vào ủng lão ngày một nhỏ dần.

Bao hơi thở bị bưng bít từ nãy đến giờ bục tung hết ra khỏi buồng phổi Rainsford. Suy nghĩ đầu tiên khiến anh vừa muốn phát bệnh, vừa tê dại cả người. Lão tướng có thể lần theo dấu vết trong rừng giữa đêm; lão có thể lần theo những vết tích rất khó phát hiện; lão hẳn phải sở hữu sức mạnh siêu nhiên; chỉ nhờ may mắn thuần túy mà tay Cô-dắc kia mới để sổng con mồi.

Ý nghĩ thứ hai còn kinh tởm hơn. Nó khiến Rainsford thấy ớn lạnh cả xương sống. Tại sao lão tướng mỉm cười? Tại sao lão lại quay lưng bỏ đi?

Anh không dám tin vào những gì lý trí mình vừa luận ra, nhưng sự thật đã rõ như ánh ban mai đang đâm xuyên màn sương sớm. Lão tướng đang vờn anh! Lão muốn để dành cuộc vui cho hôm sau! Tên quỷ Cô-dắc kia là con mèo ranh ma, còn anh chỉ là chú chuột hoảng loạn. Phải đến tận khoảnh khắc ấy, Rainsford mới được nếm mùi nỗi sợ đích thực.

"Không được mất tinh thần. Không được mất tinh thần."

Rainsford tuột xuống khỏi cây và đi lẩn vào rừng. Mặt anh đầy quyết tâm và anh ép mọi guồng quay trong não phải hoạt động hết công suất. Khi chạy được gần ba trăm mét, anh dừng bước trước một thân cây chết khổng lồ, dựa vô cùng bấp bênh lên một cái cây còn sống khác nhỏ hơn. Rainsford liệng túi thức ăn xuống đất, rút con dao đi săn ra, và hùng hục bắt tay vào chuẩn bị.

*

Sau một hồi, công việc cuối cùng cũng hoàn thành. Rainsford náu mình dưới một khúc gỗ cách đó dăm chục mét. Anh không phải chờ lâu. Con mèo lại mò tới vờn mồi.

Đại tướng Zaroff mò tới, bám theo dấu vết của anh như một con chó săn đích thực. Không gì thoát được cặp mắt đen đang đảo láo liên kia, cho dù đó chỉ là một cọng cỏ nát, một nhành cây gãy, hay những dấu vết gần như tàng hình trên lớp rêu. Lão Cô-dắc mải lần mò đến mức không để ý rằng mình đã lọt vào trận địa Rainsford đã bày bố. Bàn chân lão mắc chạm vào một cành cây nhô ra, tức 'cái lẫy' của Rainsford. Nhưng ngay khi vừa hơi chạm vào, lão đã đánh hơi thấy mùi nguy hiểm, và nhanh như vượn, lão vọt lùi ra sau. Nhanh vậy chưa hẳn đã đủ. Khúc cây chết, vốn đã được kê lại sao cho đè rất lỏng lẻo lên cái cây sống đã được cứa bớt, đổ sầm xuống và nện sớt qua vai lão. Nếu không đủ cảnh giác, lão đã bị đè nát bên dưới rồi. Lão loạng choạng, nhưng không ngã, và khẩu súng vẫn nắm chắc trong tay. Lão đứng đó, xoa xoa cái vai bị thương. Và giữa lúc tim đang một lần nữa quặn thắt lại vì sợ, Rainsford nghe thấy lão ha hả cười đầy nhạo bang, vang vọng khắp rừng.

"Anh Rainsford," lão tướng gọi, "nếu anh nghe thấy giọng tôi thì cho phép tôi gửi mấy lời khen nhé. Không mấy ai biết đặt bẫy úp Mã Lai đâu. Mà cũng may thay, tôi đã từng đi săn ở Mã Lạt Gia rồi. Giờ tôi đi chăm sóc vết thương đây. Không có gì nặng nề cả. Tôi sẽ quay lại sau. Rồi tôi sẽ quay lại sau."

Khi lão tướng tay ôm cái vai tím bầm đã mất dạng, Rainsford lại tiếp tục guồng chân lên chạy. Giờ thì anh chỉ còn biết cắm đầu cắm cổ mà chạy, hộc tốc phóng trong tuyệt vọng, trong khốn cùng, cứ thế chạy suốt nhiều tiếng ròng. Hoàng hôn đến, rồi đêm buông, ấy nhưng anh vẫn chạy không ngừng. Đất dưới đế giày đã mềm hơn; thảm thực vật trở nên rậm rạp, dày đặc hơn; côn trùng cắn xé anh không thương tiếc.

Bỗng, vừa bước lên một bước, chân anh sụt hẳn xuống bùn. Anh thử giật lại, nhưng vũng bùn ấy cứ như một con đỉa khổng lồ, hút ngập cả chân anh. Dồn toàn lực, anh thô bạo rút phăng chân ra. Anh hiểu ngay mình đang ở đâu. Đây chính là Đầm lầy Tử thần cùng mấy bãi cát lún của nó.

Tay anh siết chặt lại, như thể hồn cốt tinh thần anh đều đang tụ hết trong nắm đấm, và đang có kẻ nào đó lẩn khuất trong bóng tối, tìm cách cạy tay anh lấy mất. Phần đất mềm ở đây đã gợi cho anh một sáng kiến. Anh lùi lại khoảng hai, ba mét, và bắt đầu đào xới như một con hải ly tiền sử quá khổ.

Hồi ở Pháp, anh đã phải đào hố cá nhân trong tình cảnh chậm chỉ một giây là sẽ bị thần chết đến thăm hỏi liền. So với bây giờ thì khi ấy quá bằng đào cát nghịch chơi. Cái hố ngày một sâu. Khi khoảng cách từ miệng hố đến đáy đã cao quá vai, anh trèo lên và kiếm lấy mấy cành non cứng cáp, vót chúng nhọn hoắt. Anh cắm hết số chông này xuống hố, đầu nhọn chĩa lên trên. Tay anh thoăn thoắt lấy lá cỏ, nhành gãy tạo thành một tấm che kín đáo, sau đó phủ miệng hố lại. Thế rồi, trong tình trạng người mướt mải mồ hôi, mỏi mệt đến ê ẩm cả, anh lại chỗ một gốc cây bị sét đánh cháy đen và ngồi thụp xuống.

Anh biết lão thợ săn đang đến; anh nghe thấy tiếng chân nện trên nền đất nhoét, và cơn gió đêm đưa lại một mùi thuốc lá quen thuộc. Rainsford cảm thấy lần này lão tướng đi nhanh đến bất thường. Lão không còn tỉ mẩn dò dẫm từng bước nữa. Tại chỗ nấp của mình, Rainsford chẳng tài nào thấy nổi bóng dáng lão tướng hay chiếc hố vừa đào. Mỗi phút trôi qua đằng đẵng tựa cả năm trời. Rồi bất chợt, anh như muốn gào lên sung sướng, bởi lẽ anh vừa nghe thấy cành cây che miệng hố gãy răng rắc, kèm với đó là tiếng rú đầy đau đớn. Các đoạn chông đã tìm được mục tiêu. Từ chỗ nấp, Rainsford nhổm bật dậy. Nhưng rồi anh lại vội vã thụt về. Cách hố chưa đầy một mét có bóng người đang đứng, tay lăm lăm đèn pin.

"Khá lắm, anh Rainsford." Giọng lão tướng vang lên. "Chiếc bẫy hổ Miến Điện của anh đã hạ được con chó đắc lực nhất của tôi. Lại một lần nữa, anh ghi điểm tuyệt đối. Nhưng anh sẽ xoay sở ra sao với cả một đàn chó săn đây? Giờ tôi sẽ lui về nghỉ nhé. Cảm ơn anh đã mang lại cho tôi một buổi tối thú vị nhất trong đời!"

PHẦN V

Khi mặt trời lên, Rainsford, bấy giờ vẫn còn nằm gần khu đầm lầy, bị dựng dậy bởi một âm thanh lạ, và nó báo hiệu cho anh biết mình sắp sửa phải đối đầu với một cơn ác mộng mới. Âm thanh ấy nghe rất xa xăm, nhạt nhòa, thỉnh thoảng lại mất, nhưng chẳng lẫn đi đâu được. Đó là tiếng một bầy chó đang sủa.

Rainsford biết mình có hai lựa chọn. Anh có thể nấn ná nấp lại ở đây. Thế quá ngang tự sát. Anh có thể bỏ chạy. Nhưng thế cũng chỉ giúp mua thêm vài giây cuộc sống. Anh đứng thần ra một lúc, vắt óc suy nghĩ. Bỗng một ý tưởng táo bạo vụt lóe lên trong đầu. Thắt chặt đai lưng, anh quay người rời khỏi bãi lầy.

Tiếng sủa ngày một gần. Gần hơn, gần hơn, càng lúc càng gần hơn. Khi ra đến sườn núi, anh trèo lên cây. Dọc con sông, cách đó chưa đến một phần tư dặm, anh thấy các bụi cây đang rung rinh. Rainsford cố nheo mắt lại, và nhờ thế anh nhìn ra cái dáng thon gày của Đại tướng Zaroff. Ngay phía trước lão là một bóng khác với bờ vai rộng bản, dập dềnh giữa những bụi cỏ dại mọc cao. Gã khổng lồ Ivan. Gã chừng như đang bị một lực vô hình kéo tới trước. Rainsford đoán ngay gã là người đang nắm xích cả bầy.

Chỉ chốc nữa thôi, chúng sẽ đến chỗ anh. Mọi thớ óc của Rainsford chạy hết công suất. Chợt anh nhớ lại một mánh lới mình từng học mót được hồi còn ở Uganda. Rainsford bèn tụt xuống đất. Anh tóm lấy một nhành non dẻo và buộc chặt con dao săn vào đó, mũi dao chĩa xuống lối đi; anh dùng dây leo buộc ngược nhành cây lại. Xong xuôi, người thanh niên vắt chân lên cổ chạy thục mạng. Đánh hơi thấy mùi mới, đàn chó sủa dữ hơn hẳn. Giờ thì Rainsford đã hiểu cảm giác của một con mồi trước mõm chó săn.

Anh ngừng lại lấy hơi. Đột nhiên lũ chó im bặt, và tim Rainsford cũng ngưng luôn. Hẳn chúng đã đến chỗ con dao.

Rainsford phấn khích trèo lên một thân cây cao và nhìn về hướng hồi nãy. Những kẻ săn đuổi anh đã dừng bước, thế nhưng bao hy vọng vừa lóe lên trong đầu Rainsford ngay lập tức tắt phụt khi anh nhìn thấy rằng trong cái thung lũng nông kia, Đại tướng Zaroff vẫn hiên ngang đứng. Có điều tay khổng lồ Ivan thì không được may mắn như vậy. Nhờ sức bật của nhành cây, con dao vẫn đã ít nhiều hoàn thành nhiệm vụ của mình.

Chân Rainsford vừa chạm xuống đất thì tiếng chó sủa đã lại vang lên.

"Yên, yên, yên!" Vừa chạy anh vừa hồng hộc tự trấn an. Một khoảng trống xanh lục xuất hiện giữa hàng cây ngay trước mặt. Lũ chó đã đến sát gót. Rainsford ép mình phải tiến về phía lỗ hổng đó. Đến nơi, anh phát hiện ra đó là vách núi sát biển. Bên kia con vịnh, anh nhận ra những phiến đá xám mờ của dinh thự. Gần chục mét phía dưới, mặt biển đang gầm rú, quẫy đạp, Rainsford chần chừ. Anh nghe thấy tiếng lũ chó. Và rồi anh nhảy thẳng ra biển…

Khi đến nơi, lão Cô-dắc cùng bầy chó dừng lại. Lão tần ngần đứng bên khoảng xanh mênh mông mất mấy phút. Sau đó lão nhún vai. Thế rồi lão ngồi xuống, tu một ngụm brandy, châm điếu thuốc lá, miệng ngâm nga một khúc hát từ vở ca kịch 'Hồ Điệp Phu Nhân.'

*

Tối đó Đại tướng Zaroff thưởng thức một bữa tiệc thịnh soạn. Lão đã nhâm hết một chai Pol Boger và thêm nửa chai Chambertin nữa. Chỉ có hai điều nhỏ làm hỏng bữa tối hoàn hảo này. Thứ nhất là người thay thế Ivan đâu phải dễ tìm; thứ hai là lão đã để sổng mất con người của mình. 'Nhưng xét cho cùng, tay người Mỹ kia cũng đâu có chịu chơi tử tế,' vừa tự nhủ, Zaroff vừa hớp một ngụm rượu cho xuôi cơm.

Sau bữa ăn, Zaroff ngồi trong thư viện, lấy các chiến công của Marcus Aurelius ra để xoa dịu đầu óc. Đến mười giờ, lão trở về phòng ngủ. Vừa tự nhủ rằng mình đã có một ngày mệt mỏi, lão vừa khóa cửa lại. Hôm nay có trăng rọi, thế nên thay vì bật đèn lên, lão dạo sang bên cửa sổ và nhìn xuống dưới sân. Thấy đàn chó, lão dặn ra mồm, "Hy vọng lần sau sẽ may mắn hơn nhé." Thế rồi lão bật đèn.

Sừng sững trong phòng là một con người khác, vốn đã trốn sau bức rèm quây giường từ nãy đến giờ.

"Rainsford!" Lão rú lên. "Anh đến đây bằng cách quái quỷ nào vậy?"

"Ta bơi," Rainsford đáp. "Ta thấy làm vậy nhanh hơn nhiều so với chạy xuyên qua rừng."

Zaroff hít sâu một hơi và nhoẻn miệng cười. "Xin chúc mừng," Lão nói. "Anh đã chiến thắng."

Rainsford vẫn nghiêm mặt. "Ta vẫn còn là thú hoang đây." Anh hằm hè với cái giọng trầm đục. "Ngươi chuẩn bị đi, Đại tướng Zaroff."

Lão tướng cúi người sâu hết mức có thể. "À, ra vậy," Lão đáp. "Tuyệt vời! Một trong hai ta sẽ có vinh dự được làm bữa yến cho bầy chó. Kẻ còn lại sẽ được ngủ trên chiếc giường tuyệt mỹ này. Thủ thế đi, hỡi anh Rainsford!"…

Hồi kết

Đây quả là chiếc giường hảo hạng nhất mình từng nằm, người nhủ thầm câu ấy chính là Rainsford.