---

CHƯƠNG II
Theo đánh giá của tôi, công chúng đã rất hào hứng khi nhận được các bản tin vô tuyến chúng tôi gửi về, thuật lại việc Lake bắt đầu Tây Bắc tiến, thâm nhập những vùng nhân loại chưa lần nào lai vãng, dù là bằng đôi chân hay thông qua hình dung của trí óc. Ông nuôi mộng cách mạng hóa toàn bộ ngành sinh học và địa chất học, nhưng hy vọng ngông cuồng đấy tuyệt nhiên không được chúng tôi đả động đến. Từ ngày 11 đến ngày 18 tháng Một, Lake đã cùng Pabodie và năm người khác tổ chức một cuộc thám hiểm sơ bộ bằng xe trượt kết hợp khoan đục thăm dò. Tuy chuyến du hành gặp chút trắc trở - giữa lúc đang vượt một gờ băng lớn, nhóm của Lake bị lật xe, khiến hai con chó xấu số thiệt mạng - họ vẫn khai thác thêm được nhiều mẫu vật mới từ tầng đá bảng thời Thái Cổ[1] kia. Nằm lồ lộ bên trong địa tầng cổ xưa không tưởng này là một lượng vết tích hóa thạch lớn dị thường, nhiều tới mức ngay cả tôi cũng đâm nảy hứng thú. Tuy nhiên, đấy đều là vết tích của những sinh vật rất nguyên thủy, và ngoài việc sự sống không hiểu sao lại có thể xuất hiện trong một lớp đá trông rõ là thuộc giai đoạn Tiền Cambri như thế ra, chúng không hề tiềm ẩn nghịch lý oái oăm nào. Vì vậy, tôi vẫn chẳng thấy Lake có lý do gì chính đáng để yêu cầu chúng tôi hoãn chương trình tiết kiệm thời gian của mình lại trong khi ông trưng dụng cả bốn phi cơ, một loạt nhân sự, kèm toàn bộ máy móc của đoàn đi làm việc khác. Rốt cuộc, tôi không phủ quyết kế hoạch ấy, song tôi dứt khoát không gia nhập nhóm thám hiểm khu vực Tây Bắc, dẫu đã được Lake khẩn khoản mời làm cố vấn địa chất. Trong khi họ đi vắng, tôi sẽ lưu lại căn cứ với Pabodie và năm người khác, tính toán nốt các kế hoạch cuối cùng cho hành trình di dời về phía Đông. Nhằm chuẩn bị cho công cuộc chuyển trại, một phi cơ đã bắt tay vào chuyên chở thật nhiều xăng từ eo McMurdo lên đây; nhưng hoạt động này tạm dừng cũng được. Tôi giữ lại một xe trượt và chín con chó, bởi lẽ trong một thế giới tuyệt không bóng người, nơi cái chết vĩnh cửu ngự trị, phương tiện di chuyển phải luôn sẵn bên thân. Không làm như vậy, họa chỉ có phường xuẩn dại.
Như mọi người hẳn vẫn nhớ, trong quá trình khám phá miền chưa biết, đội thám hiểm phụ của Lake sử dụng máy phát sóng ngắn trên phi cơ để truyền về các báo cáo riêng. Cả thiết bị ở căn cứ phía Nam của chúng tôi lẫn tàu Arkham tại eo McMurdo đều thu nhận được chúng cùng một lúc, rồi từ đấy chuyển tiếp chúng cho thế giới bên ngoài, truyền đi trên những bước sóng dài đến năm mươi mét. Họ khởi hành lúc 4 giờ sáng, 22 tháng Một, xong chỉ hai tiếng sau, chúng tôi nhận được liên lạc vô tuyến đầu tiên từ Lake, đề cập đến việc ông sẽ hạ cánh và tiến hành làm tan băng kèm khoan quy mô nhỏ tại một địa điểm cách chỗ chúng tôi gần năm trăm cây. Bẵng đi sáu tiếng, thế rồi thông điệp thứ hai được truyền về, hồ hởi thuật lại rằng sau một hồi khoan đục và đánh thuốc nổ đầy tất bật, miệt mài, nhóm họ đã đào được một giếng mỏ nông, và chung cục đã tìm thấy một loạt mảnh đá bảng chứa những vết tích lạ, na ná cái vết khó hiểu ban đầu.
Ba tiếng sau, chúng tôi nhận được một mẩu tin ngắn, thông báo họ sắp sửa bay tiếp, bất chấp gió buốt đang quật rất dữ dội. Khi tôi đánh điện bảo chớ nên liều lĩnh thêm nữa, Lake cộc lốc đáp có phải liều đến mấy vì các mẫu vật mới thì cũng đáng. Vậy là cái ông này đã trở nên quá hăng, quá nhiệt, tới độ xem thường cả mệnh lệnh mất rồi, và tôi nhận ra mình chỉ còn nước bó tay trước hành động xốc nổi ấy, vô phương ngăn cản nó đe dọa sự thành bại của toàn bộ chuyến thám hiểm. Dù gì thì gì, tôi vẫn không khỏi kinh hãi khi nghĩ đến cảnh ông càng lúc càng dấn sâu vào trong cái cõi trắng rộng ngợp kia - một lãnh địa hiểm trở và gian tà, với muôn giông tố và bí ẩn khôn lường bủa giăng, dàn trải gần hai ngàn bốn trăm cây số, tới tận đường bờ biển hẵng chưa vẹn tỏ tại hai vùng đất Nữ hoàng Mary[2] và Knox[3].
Thế rồi, sau khoảng một tiếng rưỡi, một thông điệp mới được truyền về từ chiếc phi cơ đang bay của Lake, giọng điệu hào hứng gấp bội ban nãy. Nghe nó mà tôi suýt chút nữa đổi hẳn lập trường, và thầm ước mình đã đi theo nhóm bọn họ:
“10:05 tối. Đang trên không. Đã phát hiện một rặng núi sau khi bay xuyên bão tuyết. Nó ở ngay trước mặt, cao chưa từng thấy. Dễ chừng còn ngang ngửa Himalaya, nếu cộng cả độ cao của cao nguyên vào. Tọa độ khoảng 76° 15’ kinh Nam, 113° 10’ vĩ Đông. Chạy mút tầm mắt cả theo mạn trái lẫn mạn phải. Hình như có hai miệng núi đang nhả khói. Mọi đỉnh đều đen và không bị tuyết phủ. Rất khó lái vì có gió mạnh thốc ra từ chúng”.
Sau mẩu tin đó, tôi, Pabodie, và những người khác cùng nín thở túm tụm bên ống nghe. Khi nghĩ về rặng núi ấy, về cái tòa thành khổng lồ nằm cách chỗ mình hơn ngàn cây số này, chúng tôi cảm thấy một tinh thần phiêu lưu hết sức máu lửa bùng cháy trong tim; và dù không đích thân phát hiện ra nó, chúng tôi vẫn cứ nức lòng nức dạ, bởi lẽ công lao chí ít cũng thuộc về chuyến thám hiểm do đoàn chúng tôi tổ chức. Nửa tiếng sau, Lake lại điện cho chúng tôi:
“Phi cơ của Moulton đã buộc phải đáp xuống cao nguyên dưới chân núi, nhưng không ai bị thương hết, và chắc sẽ sửa được nó thôi. Sẽ chuyển các trang bị thiết yếu sang ba chiếc còn lại để quay về hoặc bay tiếp nếu cần thiết, nhưng tạm thời chưa cần triển khai thêm chuyến bay quy mô nào cả. Rặng núi thực ngoài sức tưởng tượng. Sẽ dỡ hết đồ xuống khỏi phi cơ của Carroll và dùng nó để trinh sát. Mọi người không hình dung nổi nó như thế nào đâu. Đỉnh cao nhất dễ phải hơn mười ngàn năm trăm mét. Đến Everest cũng phải chào thua. Atwood sẽ dùng máy kinh vĩ tính độ cao trong khi Carroll và tôi bay lên. Chắc đã nhầm về vụ có miệng núi bốc khói, bởi vì kết cấu đá nhìn có vẻ bị phân tầng. Có khi là đá bảng Tiền Cambri xen lẫn với một số địa tầng khác. Dáng dấp nó lạ lắm - bám vào các ngọn cao nhất là những mảng khối lập phương cân đối. Toàn rặng đẹp lộng lẫy dưới ánh Mặt Trời đêm vàng đỏ. Cứ như một vùng đất huyền bí trong mơ hay cánh cổng dẫn sang một miền cấm địa đầy diệu cảnh tinh khôi vậy. Tiếc là mọi người lại không có ở đây để nghiên cứu nó”.
Chính ra, hiện đang là giờ ngủ, nhưng nhóm chúng tôi chỉ chúi tai nghe chứ chẳng chút thiết tha chuyện đi nằm. Tại eo McMurdo, cả kho trữ vật liệu lẫn tàu Arkham cũng đều đang nhận được các thông điệp này, và sự tình ở đó hẳn cũng không khác là bao, bởi vì Thuyền trưởng Douglas đã đánh điện chúc mừng cả nhóm về phát hiện trọng đại ấy, và Sherman, anh quản kho trữ, cũng gửi lời khánh chúc tương tự. Lẽ đương nhiên, vụ hỏng phi cơ là một biến cố đáng tiếc, nhưng chúng tôi hy vọng nó sẽ không khó sửa. Thế rồi, lúc 11 giờ tối, Lake lại điện về:
“Đã cùng Carroll bay vượt những quả đồi cao nhất tại vùng dưới chân núi. Không dám phóng lên chỗ mấy ngọn núi thực sự chót vót trong điều kiện thời tiết hiện tại, nhưng chốc sẽ thử. Phải nhọc nhằn kinh khủng mới lên được đến độ cao này, và bay trên đây là cả một thách thức, nhưng rất bõ công. Rặng núi vừa lớn lại vừa không có khoảng hở, thành ra chẳng thể quan sát thấy gì đằng sau nó hết. Các đỉnh chính cao vượt Himalaya, và vô cùng kỳ quặc. Mang hình thái một rặng đá bảng Tiền Cambri, đồng thời cũng dễ nhận thấy nó còn gồm nhiều địa tầng đã dâng lên khác nữa. Đã nhầm về chuyện có hoạt động núi lửa. Trải dài tít tắp theo cả hai hướng, dõi đi đâu cũng không thấy điểm dừng. Từ khoảng sáu ngàn mét rưỡi đổ lên sạch bong tuyết. Tọa trên sườn những ngọn núi cao nhất là một số kiến tạo đá quái lạ. Gồm các khối lập phương lớn, thấp, với mặt bên dựng thẳng đứng, và các bờ lũy lùn, nằm dọc, xếp theo hàng lối vuông vuông, nom giống y những tòa thành châu Á cổ đeo trên núi đá cheo leo trong tranh Roerich. Nhìn từ xa rất ấn tượng. Đã tiến sát vài kiến tạo, và Carroll có cảm tưởng chúng do nhiều khối riêng rẽ nhỏ hơn hợp thành, nhưng đấy chắc chỉ là hệ quả của phong hóa. Phần lớn mép cạnh đều vỡ nứt và bị bào nhẵn, tựa hồ đã phải dãi dầm bão tố và biến đổi khí hậu suốt hàng triệu năm. Đá ở một số nơi, đặc biệt là những chỗ trên cao, trông nhạt màu hơn so với mọi địa tầng lộ thiên khác trên các vùng sườn núi. Điều này chứng tỏ chúng mang gốc tinh thể, không lẫn vào đâu được. Bay đến gần thì thấy nhiều miệng hang, trong đó có những miệng đều đặn bất thường - hoặc vuông, hoặc bán nguyệt. Mọi người phải đến nghiên cứu đi. Hình như tôi trông thấy một bờ lũy nằm ngay trên chót đỉnh một ngọn núi. Chiều cao có lẽ trong khoảng từ chín ngàn cho đến hơn mười ngàn mét rưỡi. Bản thân tôi thì đang ở độ cao sáu ngàn mét rưỡi, giữa cái lạnh cắt da cắt thịt tàn nhẫn. Gió lanh lảnh tạt giữa các đèo, lùa ra lùa vào các hang động, nhưng tới nay chưa có gì gây nguy hiểm cho việc bay cả”.
Suốt nửa tiếng đồng hồ sau đó, Lake tiếp tục bình luận không ngớt lời, ngoài ra còn chia sẻ rằng ông tính sẽ leo lên vài ngọn núi theo đường bộ. Tôi bảo mình sẽ qua nhập bọn với ông ngay khi ông điều được một phi cơ về đây, và Pabodie sẽ cùng tôi trù liệu phương án phân bổ xăng dầu tối ưu. Chương trình thám hiểm nay đã thay đổi, và chúng tôi phải cân nhắc xem nên tập kết nhiên liệu ở đâu và như thế nào cho phù hợp. Hiển nhiên, công tác khoan cũng như các hoạt động trên không của Lake sẽ đòi hỏi chúng tôi trữ một lượng xăng lớn tại khu căn cứ mới, được ông dự định thiết lập dưới chân rặng núi; thứ nữa, có khả năng chuyến bay về phía Đông rốt cuộc sẽ không được thực hiện trong mùa này. Nhằm phục vụ kế hoạch đang sắp đặt, tôi điện cho Thuyền trưởng Douglas, nhờ ông ta đem thật nhiều xăng xuống khỏi tàu và chở chúng lên bức lũy với đội chó duy nhất chúng tôi đã để lại ở đó. Đoàn tôi thực sự cần thiết lập một tuyến đường cắt ngang qua vùng đất bí hiểm án ngữ giữa Lake và eo McMurdo, nối liền hai nơi ấy với nhau.
Một lúc sau, Lake điện cho tôi, thông báo rằng mình đã chốt sẽ dựng trại ở nơi phi cơ của Moulton đã buộc phải hạ cánh và hiện đã được sửa chữa phần nào. Băng ở đó phủ rất mỏng, rải rác dăm ba chỗ còn có thể nhìn thấy đất sẫm màu, và ông sẽ triển khai khoan nổ mìn ngay tại đấy trước, xong mới chuyển sang thám hiểm bằng xe trượt hoặc bắt tay vào leo núi. Ông kể về sự tráng lệ không bút nào tả xiết của khung cảnh, về những rung cảm dị kỳ ông trải nghiệm khi đứng lọt thỏm dưới bóng những đỉnh núi sừng sững, lầm lì, dàn hàng nhô dậy như một bức tường ngất ngưởng bên rìa thế giới, chạm tới tận trời xanh. Theo những quan sát Atwood thu được từ máy kinh vĩ, chiều cao của năm đỉnh cao nhất rơi vào khoảng từ chín ngàn mốt cho đến hơn mười ngàn ba trăm mét. Bản chất lồng lộng gió của địa hình rõ ràng khiến Lake cảm thấy bất an, bởi vì nó báo hiệu nơi đây thi thoảng sẽ xuất hiện những trận gió mạnh kinh hồn, dữ tợn hơn mọi bão giông chúng tôi từng hứng chịu. Trại của ông nằm xa chân núi một quãng, cách chỗ cụm đồi cao chợt nhô vọt lên hơn tám cây. Ông hối thúc nhóm tôi thu xếp thật khẩn trương và giải quyết dứt điểm công chuyện với cái miền đất mới lạ kia, sớm được chừng nào hay chừng ấy. Lời lẽ của ông vụt truyền qua khoảng hư không giá băng trải dài cả ngàn cây số, và tôi có thể lờ mờ nghe ra một nét e sợ vô thức ẩn trong chúng. Bây giờ, sau một ngày ròng lao động với tốc độ mau lẹ vượt bậc cùng tinh thần hăng say hiếm ai sánh bằng, và nhờ đấy mà đã gặt hái được những thành quả xuất sắc, ông sẽ lui về nghỉ.
Sáng ra, từ các căn cứ xa nhau nghìn trùng, tôi đã cùng Lake và Thuyền trưởng Douglas tổ chức một cuộc họp ba bên qua hệ thống vô tuyến. Chúng tôi nhất trí rằng một phi cơ của Lake sẽ được cử đến trại tôi. Nó sẽ đón tôi, Pabodie, và năm người kia, đồng thời chở được bao nhiêu xăng dầu thì sẽ khiêng hết bấy nhiêu theo luôn. Bài toán nhiên liệu đến đây vẫn còn dang dở, và đường hướng xử lý phần còn lại sẽ phụ thuộc vào việc liệu chúng tôi có tính làm một chuyến Đông tiến hay không. Nhưng trước mắt, Lake đã có đủ chất đốt để đáp ứng nhu cầu sưởi ấm và khoan đục, vậy nên bỏ ngỏ vấn đề ấy ít hôm cũng chẳng sao. Căn cứ mạn Nam cũ kiểu gì cũng sẽ cần được tiếp tế thêm, nhưng nếu hoãn vụ Đông tiến lại, phải sang hè năm sau đoàn tôi mới dùng đến nó. Trong khi ấy, Lake cần điều một phi cơ đi thám sát địa bàn, hòng tìm ra một tuyến đường dẫn thẳng từ rặng núi mới của ông đến eo McMurdo.
Pabodie và tôi sửa soạn đóng cửa căn cứ, ngắn hạn hay dài hạn thì còn tùy tình hình. Nếu phải lưu lại Nam Cực trú đông, có lẽ chúng tôi sẽ bay thẳng từ căn cứ của Lake đến tàu Arkham chứ không quay trở lại nơi này nữa. Vài gian lều nón đã được gia cố bằng những khối tuyết cứng, và giờ đây, chúng tôi quyết sẽ củng cố nốt toàn trại, biến nó thành một ngôi làng cố định. Chỗ Lake thừa mứa lều bạt, thế nên ngay cả sau khi chúng tôi dọn đến, căn cứ của ông cũng sẽ chẳng thiếu thốn gì. Tôi đánh điện báo rằng sau một ngày làm việc và một đêm nghỉ ngơi, Pabodie cùng tôi sẽ sẵn sàng rời lên Tây Bắc.
Tuy nhiên, từ 4 giờ chiều trở đi, chúng tôi làm việc không được đều tay cho lắm. Nguyên nhân là tầm khung giờ đó, Lake bắt đầu gửi về những thông điệp rất mực phi thường và sục sôi phấn khích. Ngày làm việc của ông đã có khởi đầu không mấy thuận lợi. Ông muốn tìm các địa tầng Thái Cổ nguyên thủy, thành phần chủ chốt tạo nên những ngọn núi vĩ đại, lù lù vươn mình cách trại một quãng đầy mời gọi kia. Ngặt thay, khi khảo sát các mặt đá gần lộ thiên từ trên không, họ tuyệt chẳng dò ra địa tầng nào như vậy cả. Hầu hết các loại đá quan sát được xem chừng là sa thạch thuộc kỷ Jura[4] và thế Comanche[5], cùng với đá phiến kỷ Permi[6] và kỷ Trias[7]; thỉnh thoảng lại có một ụ đá đen bóng trồi ra, trông giống than phân phiến cứng. Điều này khiến Lake nản lòng ghê gớm, bởi lẽ nếu không khai quật được mẫu vật nào xưa vượt các niên đại ấy đến hơn năm trăm triệu năm, mọi kế hoạch của ông sẽ đều sụp đổ. Như Lake thấy, để kiếm lại mạch đá bảng Thái Cổ nơi mình từng phát hiện cái vết lạ, ông rõ ràng sẽ phải thực hiện một hành trình dài bằng xe trượt, lặn lội từ bãi đồi lên vùng sườn cheo leo của rặng núi khổng lồ.
Dẫu vậy, vị giáo sư vẫn quyết định sẽ triển khai một số hoạt động khoan đục quy mô nhỏ ngay tại khu vực hiện thời, coi đó như một phần trong chương trình tổng thể của nhóm. Thế là giàn khoan liền được lắp đặt, và rồi năm thành viên trong đoàn được phân công vận hành nó, trong khi những nhân sự khác lo hoàn tất việc dựng trại và sửa chữa chiếc phi cơ hỏng. Vỉa đá mềm nhất họ có thể nhìn thấy - một mảng sa thạch cách trại độ nửa cây - được chọn làm điểm lấy mẫu đầu tiên; và máy khoan hoạt động rất suôn sẻ, không đòi hỏi nổ mìn bổ trợ nhiều. Khoảng ba tiếng sau, lúc họ vừa đánh nổ xong mẻ mìn hạng nặng đầu tiên, phía đội khoan chợt rộ lên tiếng hò la nhốn nháo; thế rồi Gedney - cậu quản đốc trẻ tuổi - hớt hơ hớt hải xộc vào trại, đem theo một tin chấn động tột cùng.
Họ đã đào trúng một hang động. Không bao lâu sau khi bắt đầu khoan, sa thạch đã nhường chỗ cho một mạch đá vôi thời Comanche, đầy nhóc hóa thạch nhỏ tí của động vật chân đầu, san hô, cầu gai, và động vật xương tay xoắn ốc, đôi khi còn xuất hiện kèm những thứ hao hao bọt biển silic và xương sống động vật hải dương nữa - trong đấy, mấy mẩu xương chắc thuộc về cá xương thật, cá mập, và cá vảy láng. Bản thân khám phá này cũng đã quan trọng lắm rồi, bởi vì nhờ nó, nhóm thám hiểm đã thu được những mẫu hóa thạch động vật có xương sống đầu tiên; nhưng chốc sau, khi mũi khoan đục xuyên địa tầng ấy và thọc xuống nơi gì chừng như rỗng không, một làn sóng phấn khích mới và thậm chí còn mãnh liệt gấp đôi lan truyền khắp đội ngũ đào xới. Một vụ nổ mìn quy mô đã giúp phơi bày bí ẩn dưới lòng đất ấy; và giờ đây, nằm rộng ngoác trước mắt những người dò tìm hăm hở, bên kia một lỗ hổng sứt mẻ lởm chởm với bề ngang suýt soát mét rưỡi, bề dày tầm đâu một mét, là một đoạn hốc đá vôi nông, bị lạch nước ngầm của một xứ sở nhiệt đới dĩ vãng bào mòn nên từ hơn năm mươi triệu năm trước.
Tầng đất rỗng này sâu không quá hai mét hay hai mét rưỡi gì đó, nhưng lại trải dài bất tận theo mọi hướng và có một luồng không khí trong lành nhè nhẹ lưu thông, cho thấy nó thuộc về một hệ thống hang ngầm rộng lớn. Trần với sàn của nó chi chít nhũ đá và măng đá lớn, một số chập liền vào nhau thành các cột trụ; nhưng quan trọng hơn hết, nơi đây trữ nguyên một kho vỏ sò và xương lớn vô ngần, đôi chỗ còn thiếu điều bít nghẽn lối đi. Nùi di cốt hỗn tạp này đã bị cuốn trôi xuống đây từ những đại ngàn không tên không tuổi, rậm rạp dương xỉ và nấm Trung Sinh[8], cùng cả những cánh rừng nào mè, nào cọ xẻ, nào thực vật hạt kín nguyên thủy thuộc kỷ Đệ Tam[9]; và chứa đựng trong đó là đại diện của các loài động vật thời Creta[10], Eocen[11], cũng như hàng loạt thời kỳ khác nữa, nhiều tới độ dù có để nhà cổ sinh vật học lỗi lạc nhất thế gian kiểm đếm và phân loại chúng thì tận một năm sau, người ta cũng vẫn chưa làm xong nổi. Động vật thân mềm, giáp xác, cá, lưỡng cư, bò sát, chim, và động vật có vú sơ khai - đủ cả to lẫn nhỏ, đã biết lẫn chưa biết. Bảo sao Gedney lật đật chạy về trại làm ầm cả lên, và bảo sao tất cả những người khác đều bỏ ngang công việc để lao đi giữa cái giá rét thấu tận thịt da, ùa đến bên giàn khoan cao đánh dấu cánh cổng vừa được tìm ra - một cửa ngõ khám phá bí mật ẩn trong gan ruột Trái Đất, cũng như bí mật của các niên kỷ đã biến tan.
Sau khi đã xoa dịu được cơn tò mò cháy bỏng ban đầu, Lake ngoáy nhanh mấy dòng vào sổ tay, thế rồi nhờ cậu Moulton tức tốc quay trở lại trại để đánh điện gửi nó đi. Đây là thông báo đầu tiên tôi nhận được về phát hiện này, và theo lời nó kể, họ đã xác định được ở đây có các mẫu vỏ sò thời kỳ đầu, xương cá vảy láng và cá da phiến, tàn tích lưỡng cư răng rối và thằn lằn răng trong ổ, các mảnh sọ thương long lớn, đốt sống và phiến giáp khủng long, răng và xương cánh dực long, vụn xương điểu long lông vũ, răng cá mập thời Miocen[12], hộp sọ chim nguyên thủy, và xương xẩu các loài động vật có vú cổ khác như thú họ Palaeotheriidae[13], thú răng kiếm, ngựa thủy tổ, thú họ Oreodon[14], và thú họ Titanotheriidae[15]. Không có loài nào gần thời nay như voi răng mấu, voi, lạc đà đích thực[16], hươu, hay trâu bò, vậy nên Lake kết luận rằng thời kỳ cuối cùng nơi này còn xảy ra bồi lắng là thế Oligocen[17], và địa tầng rỗng ấy đã lưu giữ cái hiện trạng khô khốc, chìm trong chết chóc, không thể tiếp cận được của mình tối thiểu cũng phải ba chục triệu năm rồi.
Mặt khác, thật rất đỗi quái chiêu là ở đây lại có nhiều hình thái sống siêu ban sơ đến vậy. Căn cứ vào những mẫu hóa thạch chôn trong đá tiêu biểu, tỉ như bọt biển họ Ventriculitidae[18], thành hệ đá vôi này rõ ràng phải thuộc thế Comanche, chẳng thể lẫn đi đâu được. Không đời nào có chuyện nó hình thành từ trước mốc đấy, dù chỉ sớm hơn chút chút. Tuy nhiên, trong số các mảnh hóa thạch nằm vương vãi bên ngoài lớp đá của địa tầng rỗng, chiếm tỷ trọng cao đến bất ngờ lại là tàn tích những sinh vật vốn trước nay luôn được liệt vào dạng đặc hữu, chỉ tồn tại ở các thời kỳ cổ xưa hơn hẳn - thậm chí còn gồm cả các chủng cá sơ khai, động vật thân mềm, và san hô từ những kỷ nguyên xưa lắc xưa lơ như kỷ Silur[19] hoặc kỷ Ordovic[20]. Cứ theo đó, kết luận tất yếu rút ra được là: không như bất cứ đâu khác, sự sống ở vùng này nhất quán đến phi thường, hơn ba trăm triệu năm trước vẫn giống với thời cách đây độc ba mươi triệu năm. Dĩ nhiên, có trời mới biết nó còn duy trì được tính nhất quán ấy thêm bao lâu nữa sau khi giai đoạn Oligocen chấm dứt, tức thời điểm cái hang bị bít mất. Nhưng dù gì thì gì, khoảng năm trăm ngàn năm trước - tức chỉ vừa hôm qua nếu đem so với tuổi đời của cái hang này - băng giá kinh hoàng đã xâm lấn thế Pleistocen[21], và nó hẳn đã đặt dấu chấm hết cho mọi hình thái sống nguyên thủy nơi đây, những kẻ vốn bấy lâu đã xoay xở bấu víu lại dương thế quá ngưỡng giai đoạn tồn tại thông thường của giống loài mình.
Gửi xong bức thông điệp đầu tiên, Lake vẫn không chịu thôi. Lúc Moulton còn chưa kịp quay trở lại điểm khoan, ông đã viết thêm luôn một thông báo mới, thế rồi sai người phóng qua băng, qua tuyết đem nó về trại. Bắt đầu từ đây, Moulton cắm hẳn chốt bên một chiếc phi cơ, túc trực tại máy vô tuyến của nó để nhắn cho tôi những bản tái bút được Lake liên tục nhờ hết người này đến người khác gửi về. Chúng cũng được điện sang cho cả tàu Arkham nữa, để nó còn chuyển tiếp thông tin cho thế giới bên ngoài. Những ai chịu khó theo dõi tin tức hẳn vẫn nhớ các báo cáo chiều hôm đó đã khiến cộng đồng khoa học dậy sóng tới nhường nào. Nhiều năm sau, chúng rốt cuộc còn đã thúc đẩy người ta thành lập chính cái đoàn tôi hiện đang tìm mọi cách can ngăn: Đoàn thám hiểm Starkweather-Moore. Tốt hơn hết, tôi nên trình bày nguyên văn các thông điệp Lake đã gửi, không thuật lệch dù chỉ nửa chữ so với nội dung đã được McTighe, anh trực đài ở căn cứ nhóm chúng tôi, phiên dịch lại từ các đoạn tốc ký ghi bằng bút chì:
“Fowler đã có một phát hiện vô cùng chấn động. Nằm trong các mảnh sa thạch và đá vôi thu được sau khi đánh mìn là hàng loạt vết tam giác vằn vân rất rõ nét, tương tự các vết trong mạch đá Thái Cổ. Như thế chứng tỏ sinh vật để lại chúng đã sống sót từ hơn 600 triệu năm trước tới tận giai đoạn Comanche với hình thái không mấy biến đổi, và kích thước trung bình cũng chỉ suy giảm ở mức vừa phải. Thực ra, nếu so sánh, các vết thời Comanche xem chừng còn nguyên thủy hơn, không thì cũng bị thoái hóa hơn so với những vết từ thời trước đấy. Phải nhấn mạnh tầm quan trọng của phát hiện này trong thông cáo báo chí. Nó sẽ khuynh đảo ngành sinh học như Einstein từng khuynh đảo toán học và vật lý. Khớp với nghiên cứu tôi từng thực hiện, đồng thời góp phần bổ trợ cho các kết luận sẵn có.
Đây dường như cho thấy tôi đã suy đoán đúng về một chuyện: sự sống hữu cơ trên Trái Đất từng trải qua một hoặc nhiều chu kỳ phát triển trọn vẹn, sau đó mới bước vào chu kỳ đã biết - tức chu kỳ bắt đầu với các tế bào đại Cổ Sinh[22]. Tối thiểu cũng đã tiến hóa và trở nên chuyên biệt từ một tỷ năm trước, lúc hành tinh còn trẻ và cách đấy chưa lâu hãy còn là một môi trường không tài nào cư ngụ nổi đối với mọi dạng thức sống cũng như cấu trúc nguyên sinh chất bình thường. Câu hỏi đặt ra là biến chuyển đó xảy ra từ bao giờ, ở nơi đâu, và như thế nào”.
*
“Một lúc sau. Trong quá trình nghiên cứu một số mảnh xương thằn lằn lớn - cả chủng sống trên cạn lẫn chủng sống dưới nước - cùng xương động vật có vú nguyên thủy, đã phát hiện trên cấu trúc xương có những tổn hại hoặc thương tích cục bộ dị thường, không ứng với thú săn mồi hoặc động vật ăn thịt đã biết ở bất cứ thời kỳ nào. Các vết thương chia làm hai dạng: những lỗ thẳng, đục xuyên qua xương; và các đường rạch trông như vết chém. Một, hai trường hợp xương bị phạt gãy lìa. Không nhiều mẫu vật bị ảnh hưởng. Đang phái người về trại lấy đèn pin. Sẽ chặt hạ nhũ đá để mở rộng phạm vi tìm kiếm xuống khu vực dưới lòng đất”.
*
“Sau ban nãy một lúc. Đã tìm thấy một mảnh đá xà phòng[23] kỳ khôi, đường kính xấp xỉ mười lăm phân, dày độ bốn phân, khác hẳn mọi kiến tạo đá quan sát được tại đây - màu xanh lục nhàn nhạt, nhưng không có đặc điểm gì giúp xác định niên đại. Nhẵn nhụi và đều đặn đến lạ. Hình dạng giống một ngôi sao năm cánh bị cụt mất chót, cộng thêm một số vệt nứt nẻ khác tại các góc trong và ở tâm bề mặt. Nằm chính giữa mặt đá nguyên vẹn là một chỗ lõm be bé, nhẵn thín. Nó gốc tích ra sao? Bị phong hoá kiểu gì? Bao tò mò xoay quanh hai điểm này trỗi dậy. Có thể đây là một dị vật do nước bào thành. Khi lấy kính lúp quan sát, Carroll tin mình còn phát hiện được vài vết tích có ý nghĩa về mặt địa chất khác nữa. Có những cụm chấm nhỏ, phân bố theo những mẫu dạng quy củ. Trong lúc chúng tôi làm việc, lũ chó càng lúc càng trở nên khó ở, ra chiều ghê tởm miếng đá này. Phải kiểm tra xem nó có mùi gì lạ không. Sẽ báo cáo tiếp sau khi Mills đem đèn về và chúng tôi đã bắt đầu xuống triển khai hoạt động dưới lòng đất”.
*
“10:15 đêm. Phát hiện trọng đại. Hồi 9:45, trong lúc soi đèn làm việc dưới lòng đất, Orrendorf và Watkins đã tìm thấy những hóa thạch dạng thùng gớm guốc, bản chất hết sức bí hiểm; nhiều khả năng là thực vật, trừ phi đây là mẫu vật lớn quá khổ của một chủng động vật đối xứng tỏa tròn chưa biết nào đó. Mô được bảo toàn, có vẻ nhờ tác động của muối khoáng. Cứng ngắc như da thuộc, nhưng dăm ba chỗ vẫn còn mềm dẻo đến đáng kinh ngạc. Hai đầu cùng mấy mặt bên mang dấu tích của các bộ phận đã gãy rời. Từ đầu này đến đầu kia dài hơn một mét tám; đường kính trung tâm gần chín mươi phân, thót dần lại cho đến khi chỉ còn ba mươi phân ở mỗi đầu. Mang dáng dấp một chiếc thùng tô nô, có điều thế chỗ những ván gỗ cong lại là năm dải lồi. Nằm tại tâm các dải ấy, nơi đường đối xứng của hóa thạch đi qua, là những đoạn nứt gãy, trông như các thân cuống mảnh khảnh. Nhô ra từ phần rãnh xen giữa các dải lồi là những khối lạ - có thể là mào hoặc cánh, xòe ra gấp vào được như quạt. Hầu hết các mẫu đều bị hư hại nặng, ngoại trừ một mẫu duy nhất với sải cánh hơn hai mét. Hình hài không khỏi gợi cho con người ta liên tưởng đến một số chủng quái vật trong thần thoại nguyên khởi, đặc biệt là các Cựu Vật huyền hoặc trong cuốn Necronomicon.
Cánh của chúng có vẻ mang dạng màng, căng trên một bộ khung cấu thành từ ống tuyến. Khi nhìn vào đầu chót cánh, sẽ thấy rất rõ trên ống khung có các lỗ li ti. Hai đầu của phần thân đã teo quắt lại, chẳng hé lộ mảy may gì về cấu tạo bên trong hay bản chất thứ đã gãy khỏi hóa thạch. Phải tiến hành phẫu tích ngay khi chúng tôi trở về trại. Không thể quyết định được là thực vật hay động vật. Nhiều đặc điểm rành rành nét nguyên thủy, xưa đến khó lòng tin nổi. Đã huy động mọi nhân sự xuống chặt nhũ đá và tìm thêm mẫu vật. Đã phát hiện một số mẫu xương có sẹo khác, nhưng chúng sẽ phải để sau tính. Lũ chó đang giở chứng. Chúng không tài nào chịu đựng nổi mẫu vật mới, và nếu nhóm tôi không giữ cái mẫu đấy cách xa bọn chúng thì dễ chừng chúng đã nhào vào xâu xé nát bươm nó luôn rồi”.
*
“11:30 đêm. Dyer, Pabodie, Douglas, chú ý này. Đây là thông tin cực kỳ quan trọng - có thể nói là quan trọng tột bậc. Cần được tàu Arkham tức khắc chuyển tiếp cho Trạm Kingsport Head. Vật dạng thùng quái lạ kia chính là thực thể Thái Cổ đã để lại mấy cái vết trong đá. Mills, Boudreau, và Fowler đã phát hiện được một cụm mười ba mẫu nữa dưới lòng đất, tại một điểm cách lỗ khoan tầm mười hai mét. Nằm lẫn với những mảnh đá xà phòng hình dáng kỳ quặc, trơn nhẵn bất thường, và nhỏ hơn mảnh đã tìm thấy lúc trước - có hình ngôi sao, nhưng không có vết tích gãy vỡ nào ngoại trừ ở một số chót cánh.
Về phần các mẫu vật hữu cơ, tám mẫu có vẻ lành lặn, đầy đủ các chi. Đã chuyển hết lên mặt đất, và đã dắt lũ chó lánh đi xa hẳn. Bọn nó ghét cay ghét đắng các mẫu này. Lắng nghe thật kỹ các miêu tả rồi sau đó đọc lại để đảm bảo chuẩn xác nhé. Báo chí không được phép đăng sai.
Các vật thể có tổng chiều dài gần hai mét rưỡi. Kiểu thân tương tự thùng tô nô, phân làm năm dải dọc, dài hơn một mét tám, đường kính trung tâm chín mươi phân, đường kính hai đầu chót ba mươi phân. Xám sẫm, linh hoạt, và bền chắc vô cùng. Cánh dài hai mét mốt với kết cấu màng, màu cũng xám sẫm, được tìm thấy trong tình trạng gấp lại, sẽ xòe ra từ rãnh giữa các dải thân. Khung cánh có dạng ống hoặc tuyến, màu xám nhạt hơn, và có lỗ ở chót cánh. Khi dang rộng, cánh để lộ mép răng cưa. Bao quanh vùng giữa thân là năm hệ thống tay hoặc xúc tu mềm dẻo màu xám nhạt, mỗi hệ thống nằm ở chính giữa một dải thân dọc trông như ván đóng thùng, ngay trên đỉnh cung lồi của cái dải ấy. Được phát hiện trong trạng thái gập sát người, nhưng có thể duỗi dài đến tối đa hơn một mét. Giống tay loài huệ biển nguyên thủy. Các cuống tay có đường kính hơn bảy phân rưỡi, tẽ thành năm cuống con sau khi đạt chiều dài mười lăm phân, và sau hai mươi phân nữa thì mỗi cuống con lại tiếp tục phân nhánh thành những xúc tu hoặc tua nhỏ, thuôn dần, tạo ra cho mỗi cuống tay tổng cộng hai mươi lăm xúc tu.
Trên đỉnh thân là một cái cổ tròn, bè bè như củ hành, màu xám nhạt hơn, nhìn như có mang cá, nâng đỡ một vật năm cánh màu vàng, bề ngoài giống sao biển, phủ kín một lớp lông mao thô cứng dài bảy phân rưỡi, sặc sỡ các màu cầu vồng. Đấy có vẻ là đầu.
Phần đầu dày và phồng húp, khoảng cách giữa hai chót đối xấp xỉ sáu mươi phân, và thòi ra từ mỗi chót là một chiếc vòi dẻo màu vàng, dài bảy phân rưỡi. Chính giữa đỉnh đầu là một cái khe, có lẽ đóng vai trò lỗ thở. Đoạn cuối mỗi vòi bành rộng thành một cục hình cầu. Khi thao tác với nó, một lớp màng vàng mỏng sẽ cuộn lên, để lộ một khối cầu như thủy tinh có mống đỏ, trông rõ là một con mắt.
Tại các góc trong của cái đầu hình sao biển, bắt gặp năm vòi đo đỏ dài hơn chút, cuối vòi phình to thành các khối cùng màu có dạng bọc. Nếu bị áp lực tác động vào, các bọc sẽ mở ngoác thành những lỗ hình chuông với đường kính tối đa năm phân, viền quanh bởi những ụ lồi trắng nhởn và sắc nhọn, trông như răng - đây nhiều khả năng là miệng. Lúc được phát hiện, toàn bộ mớ vòi, lông mao, cùng cánh của cái đầu sao biển đều gập bẹp xuống; vòi với cánh đầu ôm sát phần cổ to bè và thân. Dễ uốn nắn bất ngờ dù cực kỳ rắn chắc.
Dưới đáy thân có những bộ phận ít nhiều tương đồng cấu trúc đầu, nhưng chức năng lại khác. Cổ giả to bè màu xám nhạt, không có gì giống mang, đỡ một kết cấu sao biển năm cánh màu xanh lục. Có chi rắn đanh, vạm vỡ cơ bắp, dài một mét hai, đường kính dần thu hẹp từ gần mười tám phân ở gốc xuống còn khoảng sáu phân ở chót. Mỗi chót được gắn liền với đỉnh nhỏ của một màng tam giác xanh lục cao hai mươi phân, đáy xa rộng mười lăm phân, bên trong có năm đường gân. Chính thứ này - hoặc chân chèo, hoặc vây, hoặc chân giả - đã để lại các vết tích trong những lớp đá với niên đại từ một tỷ cho đến năm mươi, sáu mươi triệu năm trước. Trổ ra từ các góc trong của cấu trúc sao biển là những vòi đỏ dài đến nửa mét, đường kính dần thu hẹp từ hơn bảy phân rưỡi ở gốc xuống còn hai phân rưỡi ở chót vòi. Trên chót có lỗ. Tất cả những bộ phận ấy đều cứng khỏe và bền dai khôn tả, nhưng vẫn linh hoạt cực độ. Chỗ chi dài một mét hai gắn chân chèo hẳn được dùng để di chuyển theo cách nào đó, hoặc dưới nước, hoặc tại một môi trường khác. Khi chúng bị co dịch, bắp thịt lực lưỡng sẽ cuồn cuộn nổi lên. Tại thời điểm được phát hiện, tất cả những bộ phận nhô dài này đều gập sát cái cổ giả và phần thân dưới, tương tự các bộ phận bên đầu đối diện.
Vẫn chưa thể khẳng định chắc chắn được chúng thuộc giới động vật hay thực vật, nhưng động vật hiện đang là trường hợp khả dĩ hơn. Có khi đại diện cho một loài đối xứng tỏa tròn với mức tiến hóa cao không tưởng, song vẫn lưu giữ dăm ba đặc điểm nguyên thủy nhất định. Mang những nét tương đồng không lẫn vào đâu được với ngành da gai[24], dù hình thái cục bộ có đôi chỗ mâu thuẫn.
Thực khó lý giải về sự hiện diện của cấu trúc cánh tại một môi trường sống nhiều khả năng là đại dương, nhưng chưa biết chừng chúng có công dụng gì đấy trong việc điều hướng dưới nước. Kỳ quặc thay, kiểu đối xứng lại giống với cỏ cây, gợi ra cấu trúc trên-dưới căn bản của thực vật thay vì cấu trúc trước-sau của động vật. Tiến hóa từ thời kỳ vô cùng sớm, trước cả những động vật nguyên sinh thời Thái Cổ giản đơn nhất đã biết tới nay, khiến mọi phỏng đoán về nguồn gốc đều đâm vào ngõ cụt.
Nếu đặt các mẫu vật hoàn chỉnh cạnh một số tạo vật trong thần thoại nguyên khởi, ta sẽ thấy xuất hiện một sự tương đồng rợn người, trùng khớp đến nỗi một giả thuyết tất yếu phải nảy sinh: xưa kia chúng từng tồn tại bên ngoài địa phận Nam Cực. Vì Dyer và Pabodie đã đọc cuốn Necronomicon, chưa kể còn đã chiêm ngưỡng những bức tranh ác mộng do Clark Ashton Smith[25] vẽ dựa trên nội dung của nó, thế nên khi tôi nhắc đến các Cựu Vật - những kẻ theo tương truyền từng bỡn cợt, hoặc có thể là sơ ý, tạo ra tất thảy sự sống trên Trái Đất - họ ắt sẽ hiểu ngay. Giới nghiên cứu bấy lâu vẫn tin quan niệm này khởi nguồn từ những mường tượng hắc ám về các loài động vật đối xứng tỏa tròn siêu cổ ở miền nhiệt đới. Giống cả mấy tạo vật trong truyền thuyết dân gian tiền sử Wilmarth từng đề cập đến - những chi hệ giáo phái phụng thờ Cthulhu[26], vân vân.
Mở ra nguyên một lĩnh vực nghiên cứu rộng mênh mang. Chiếu theo những mẫu vật liên quan, cụm vật thể có lẽ đã tích xuống đây trong giai đoạn Creta Muộn hoặc Eocen Sớm. Lắng đè lên chúng là những măng đá khổng lồ. Vất vả lắm mới đẽo được ra, nhưng vì rất bền chắc, mẫu vật không bị hư tổn gì. Tình trạng bảo quản tốt diệu kỳ, có vẻ là do ảnh hưởng từ đá vôi. Hiện chưa kiếm thêm được mẫu nào, nhưng chốc sẽ tìm tiếp. Giờ phải tính cách đưa mười bốn mẫu vật khổng lồ về trại mà không viện đến lũ chó. Chúng sủa như hóa rồ, thành thử không ai dám cho lại gần các mẫu vật.
Với chín nhân sự - ba người kia ở lại trông bọn chó - chúng tôi chắc sẽ xoay xở ổn thỏa với ba cỗ xe trượt thôi, dù điều kiện gió đang bất lợi. Cần thiết lập một tuyến đường không nối với eo McMurdo và bắt đầu vận chuyển nguyên vật liệu. Nhưng trước khi ngơi nghỉ, tôi phải khám nghiệm một mẫu đã. Giá ở đây có phòng thí nghiệm tử tế thì tốt quá. Dyer cứ liệu mà ăn năn sám hối cái tội đã toan ngăn cản hành trình Tây tiến của tôi đi.
Đầu tiên là rặng núi hùng vĩ nhất thế giới, xong tới lượt phát hiện này. Nếu diễn tiến mới nhất ấy không phải là đỉnh cao của chuyến thám hiểm thì tôi chẳng biết đâu mới là đỉnh cao nữa. Tên tuổi chúng ta sẽ lẫy lừng trong làng khoa học. Xin chúc mừng nhé, Pabodie, vì chính bộ khoan của ông đã giúp mở ra cái hang kia. Còn bây giờ, phiền tàu Arkham đọc lại phần mô tả được không?”
Thật khó diễn nổi thành lời những xúc cảm xốn xang trong lòng Pabodie và tôi khi chúng tôi nhận được báo cáo này, và những thành viên khác trong đoàn cũng chẳng kém phần hào hứng. Lúc thông tin còn đang truyền về qua bộ thu nhẽo lẹt xẹt, McTighe đã dịch gấp vài điểm nhấn đáng chú ý, và ngay khi trực đài viên phía Lake kết thúc cuộc điện, anh ta liền chép ra phiên bản đầy đủ của bức thông điệp dựa trên nội dung mình đã tốc ký. Ai cũng ý thức được tầm quan trọng mang tính bước ngoặt thời đại của phát hiện, và sau khi người trực đài trên tàu Arkham đã hoàn tất việc đọc lại các đoạn mô tả theo yêu cầu, tôi lập tức gửi lời chúc mừng Lake; và từ kho trữ bên eo McMurdo, Sherman noi gót tôi đánh điện mừng, rồi từ trên tàu Arkham, Thuyền trưởng Douglas cũng nối bước theo gương. Về sau, với tư cách trưởng đoàn thám hiểm, tôi đã bổ sung thêm đôi lời bình phẩm để tàu Arkham chuyển tiếp cho thế giới bên ngoài. Lẽ đương nhiên, giữa bao phấn khích thế này mà nghĩ đến chuyện ngủ nghê thì thực lố bịch; và nguyện ước duy nhất của tôi là có thể chóng đến trại của Lake ngay. Rồi khi ông nhắn rằng một trận gió dữ đã nổi lên ở trên núi, khiến chẳng cách nào triển khai bay sớm được, tôi không khỏi cảm thấy hụt hẫng.
Nhưng nội tiếng rưỡi sau, hứng thú một lần nữa trỗi dậy, xua tan nỗi thất vọng. Lake lại gửi tiếp các bức điện mới, thông báo đã đưa thành công mười bốn mẫu vật lớn về tri. Phải kéo bở cả hơi tai, bởi lẽ các mẫu nặng đáng kinh ngạc; nhưng với chín người chung tay, nhiệm vụ đã được xuất sắc hoàn thành. Hiện thời, vài thành viên trong nhóm đang hối hả dựng rào tuyết quây lấy một bãi nằm cách trại vừa đủ xa, nơi lũ chó sẽ được đưa đến để còn tiện đường cho ăn uống. Các mẫu vật được đặt trên lớp tuyết cứng gần trại, ngoại trừ cái mẫu đang được Lake loay hoay tiến hành phẫu tích sơ bộ.
Cuộc phẫu tích xem chừng khó khăn hơn dự kiến, bởi các mô của đối tượng được chọn - một mẫu vật to lớn và lành lặn - lại như miễn nhiễm với hơi nóng tỏa ra từ một chiếc lò sưởi xăng trong gian lều thí nghiệm mới dựng; chúng không hề giảm sút độ cứng, vẫn đanh chắc hơn cả da thuộc, bất chấp sở hữu một sự linh hoạt đầy phỉnh phờ. Phải dùng lực rất thô bạo thì mới rạch được những đường cần thiết, hiềm nỗi Lake sẽ hủy hoại mọi nét kết cấu tinh vi mình đang muốn nghiên cứu nếu làm vậy, và ông chẳng hiểu phải xử trí thế nào. Vâng, ông quả vẫn còn bảy mẫu vật nguyên lành nữa, nhưng đây là một con số quá ít ỏi để có thể đem ra sử dụng vô tội vạ, trừ phi sau này thu được một nguồn mẫu bất tận từ cái hang. Thế là ông bèn ứng biến, bỏ mẫu đang dùng đi và lôi vào một mẫu bị giập nát trầm trọng, chưa kể còn rạn nứt nhẹ dọc theo một rãnh lớn trên thân, tuy ở cả hai đầu vẫn tồn lại tàn tích của cụm cấu trúc sao biển.
Kết quả nhanh chóng được báo về qua đài vô tuyến, và chúng thực khó hiểu cực độ, song cũng khơi lên muôn suy tưởng. Với những dụng cụ phải trầy trật lắm mới cắt qua nổi loại mô lạ lùng kia thì chẳng thể làm được gì chi li hay tinh xác cả, nhưng lượng thông tin eo hẹp lượm lặt được vẫn đủ khiến chúng tôi ai nấy đều sững sờ và ngơ ngẩn. Sinh vật học hiện hành sẽ phải được tái xét toàn bộ, bởi lẽ thứ này không phải là thành phẩm của bất kỳ quá trình sinh trưởng tế bào nào khoa học từng biết đến. Mẫu vật hầu như không hề bị khoáng hóa, và dù ngưỡng tuổi dễ đã lên đến bốn mươi triệu năm, các cơ quan nội tạng vẫn nguyên vẹn tuyệt đối. Dai chắc tựa da thuộc, miễn nhiễm với mục rã, và gần bất khả xâm hại - tất thảy đều là những đặc tính nội tại của vật thể, hiện hữu sẵn trong dạng thức cấu tạo của nó, và gắn liền với một chu kỳ tiến hóa của động vật không xương sống kỷ Paleogen nào đấy mà chúng tôi không tài nào đoán định nổi. Thoạt đầu tất cả những gì Lake khám phá được đều khô ráo, nhưng rồi sức rã đông của chiếc lều ấm dần phát huy hiệu lực, và bên mặt lành của vật thể xuất hiện một loại nước ẩm hữu cơ, bốc mùi hăng nồng phát lợm. Nó không phải máu, mà là một thứ dịch sền sệt màu xanh thẫm, có vẻ cũng giữ chức năng tương tự. Lúc Lake thực hiện đến công đoạn này, cả ba mươi bảy con chó đều đã được đưa vào bãi quây hãy còn đang dựng dở gần khu trại; dù ở tận đấy, chúng vẫn gân mõm sủa rất dữ tợn và ra chiều kích động cực độ trước cái mùi cay sè, tỏa rộng khắp nơi đó.
Thay vì giúp định danh thực thể kỳ khôi, cuộc phẫu tích sơ lược này chỉ tổ khiến bí ẩn về nó càng thêm khôn cùng. Mọi suy đoán về các bộ phận bên ngoài của nó đều chính xác, và dựa trên những bằng chứng ấy, ta sẽ có thể không chút ngần ngại liệt nó vào hàng động vật; ngặt nỗi khi kiểm đến bên trong, chứng cứ thể hiện đây là thực vật lại ngồn ngộn lòi ra, nhiều tới mức Lake chẳng biết đường nào mà lần nữa. Nó sở hữu cả hệ tiêu hóa lẫn hệ tuần hoàn, và bài tiết chất thải qua các ống đỏ nằm dưới phần gốc hình sao biển. Theo quan sát sơ bộ, xem chừng cơ quan hô hấp của nó dung nạp ôxi thay vì cácbon điôxít, và có những bằng chứng lạ lùng về sự hiện hữu của các khoang trữ khí cũng như cơ chế chuyển từ hô hấp bằng lỗ ngoài sang hô hấp bằng ít nhất hai hệ thống thở hoàn chỉnh khác - mang và khí khổng. Đây rõ ràng là một chủng lưỡng cư, và chắc cũng đã thích nghi với những giai đoạn ngủ đông dài trong môi trường yếm khí. Hệ hô hấp chính dường như có các cơ quan phát âm đi kèm, nhưng ở chúng tồn tại một số điểm dị thường nhất thời chưa thể lý giải. Khả năng tạo vật đủ sức phát ra lời lẽ rành rọt - tức xướng rõ từng âm tiết riêng biệt - thấp vô cùng; song dễ chừng nó có thể vi vu huýt lên những tiếng du dương, trải khắp một âm vực rộng. Hệ cơ vô cùng phát triển, tựa hồ được một thế lực siêu nhiên tiếp sức.
Khi nhìn vào hệ thần kinh, Lake thiếu điều á khẩu, bởi độ phức tạp và mức phát triển của nó mới phi thường làm sao. Dù rất đỗi nguyên thủy và xưa cổ trên một số phương diện, tạo vật lại mang trong mình một tập hợp các trung khu hạch[27] và liên kết thần kinh - chứng tích của một quá trình chuyên biệt hóa cực bậc. Khối não năm thùy của nó tinh xảo khó ngờ, đồng thời cũng có dấu hiệu cho thấy nó được trang bị một hệ thống cảm quan với những đặc điểm rất quái lạ, trần đời này tuyệt không sinh thể nào khác sở hữu. Mớ lông mao thô cứng trên đầu là một trong những bộ phận phục vụ guồng máy cảm quan ấy. Có khả năng nó nắm giữ nhiều hơn năm giác quan, vậy nên tham chiếu vật này với một loài tương đồng đã biết hòng phỏng đoán về tập tính của nó sẽ chỉ vô dụng. Lake đồ rằng nó ắt từng là một thức sống vô cùng thính nhạy trong cái thế giới sơ khai nơi mình ngụ, với những cơ chế chức năng đầy tinh biệt - hệt như ong và kiến ngày nay. Nó sinh sản theo kiểu tương tự thực vật bào tử, đặc biệt là các chủng thuộc ngành hoa ẩn có mạch, bởi lẽ ở chót cánh có bào nang[28], chưa kể bản thân nó còn trông rõ là đã trưởng thành từ một tản hoặc nguyên tản[29].
Nhưng mới đến đây mà đã khoán tên cho nó thì thật ngớ ngẩn. Tuy mang diện mạo một loài đối xứng tỏa tròn, nó rõ ràng vượt ngoài phân nhánh ấy. Nó ít nhiều là thực vật, song lại chứa đến ba phần tư thành tố cốt lõi làm nên một cấu trúc động vật. Dựa trên ngoại hình cân xứng cùng một số tính trạng khác của mẫu vật, có thể khẳng định chắc chắn nó mang gốc gác thủy sinh; ngặt nỗi ta lại chẳng thể khoanh vùng được hạn mức thích nghi sau này của nó. Dù gì cũng vẫn còn cặp cánh, và chúng thì cứ dai dẳng gợi tưởng đến chốn mây trời. Bằng cách nào đó, trên một Trái Đất vừa nên hình nên dạng, tạo vật này đã thần tốc hoàn thành quá trình tiến hóa vô cùng phức tạp của mình, chóng vánh đến nỗi kịp lưu cả dấu tích vào tận lớp đá thời Thái Cổ. Trước một ý niệm không tưởng nhường ấy, Lake bỗng vơ vẩn nhớ đến các Đại Cổ Đấng trong thần thoại thuở khai thiên lập địa, xưa kia từng từ miền tinh tú hạ giáng xuống Địa Cầu, và rồi trong một phút lơ đễnh, hoặc vì ngẫu hứng muốn cợt nhả, đã khởi tạo sự sống nơi đây. Không chỉ thế, dòng hồi tưởng còn đưa ông quay ngược về với những câu chuyện hoang đường mình đã có lần được một đồng nghiệp tại Miskatonic - một nhà dân gian học trong khoa ngữ văn - thuật cho nghe, xoay quanh những tạo vật vũ trụ từ Ngoại Cõi tràn tới và rình rập trên núi đồi.
Dĩ nhiên, Lake đã cân nhắc đến trường hợp chủ nhân các vết Tiền Cambri kia là một tổ tiên kém phát triển của các mẫu vật hiện tại. Nhưng khi nhìn vào các đặc tính cấu trúc ưu việt của những mẫu hóa thạch xưa hơn, ông tức khắc gạt phăng giả thuyết quá đỗi thiển cận đấy. Có chăng, diện mạo sau này của các mẫu vật lại cho thấy chúng đã thoái hóa đi thay vì tiến hóa thêm. Phần chân giả đã thu nhỏ lại, đồng thời hình thái tổng thể có vẻ thô thiển và đơn sơ hơn. Bên cạnh đó, hệ thần kinh cùng các cơ quan nội tạng vừa khám nghiệm còn mang những dấu tích dị thường, báo hiệu chúng là phiên bản thui chột của những dạng thức thậm chí còn phức tạp hơn. Số lượng bộ phận teo lụi và tàn dư nhiều đến đáng ngạc nhiên. Nhìn chung, hầu như vẫn chưa điều gì được làm sáng tỏ; và Lake tạm phong cho các phát hiện của mình cái tên “Cựu Đấng” - một danh xưng được ông bông đùa vay mượn từ thần thoại.
Quãng 2:30 sáng, sau khi quyết định tạm hoãn công việc và đi nghỉ chút xíu, viên giáo sư phủ một tấm vải dầu lên tạo vật đã phẫu tích, bước ra khỏi gian lều thí nghiệm, rồi ngắm nghía các mẫu vật nguyên vẹn với niềm hứng khởi một lần nữa rạo rực trong tim. Vầng Mặt Trời chói tỏa triền miên nơi xứ cực Nam đã bắt đầu hun cho mô của chúng mềm ra bơn bớt, vậy nên ở đôi ba mẫu, các chót trên đầu cùng mớ ống đang có biểu hiện dần duỗi mở; nhưng Lake tin trong làn khí tụt sâu dưới âm, hiện tượng thối rữa sẽ chẳng phải là một mối nguy cấp bách. Dẫu thế, ông vẫn dịch tất cả các mẫu vật chưa mổ xẻ lại sát nhau và phủ một chiếc lều dư lên chúng để tránh ánh nắng trực tiếp chiếu vào. Làm vậy cũng giúp ngăn cái mùi khả dĩ của chúng khỏi bay sang chỗ đàn chó. Bất chấp ở cách khá xa, chưa kể còn khuất phía sau những bức tường tuyết đang được một đội ngũ nay đã đông đảo hơn trước hối hả đắp cho cao thêm quanh chuồng, lũ chó cứ tiếp tục hung hăng làm nhặng, và càng lúc, chúng càng trở nên thực sự phiền nhiễu. Núi đá oai vệ dường như đang lăm le tung ra những đợt cuồng phong tàn khốc vô cùng, và giữa sức gió ngày một mạnh, Lake buộc phải cố định bạt lều bằng cách chèn những khối tuyết nặng lên các góc của nó. Nỗi lo về những trận gió bão thình lình của Nam Cực hồi trước nay lại dấy lên, thế là để phòng ngừa bất trắc, một nỗ lực đắp lũy tuyết nhằm củng cố mạn đối diện với rặng núi của lều trại, bãi quây chó mới, cùng các lán che phi cơ thô sơ đã được triển khai dưới sự giám sát của Atwood. Về mấy lán phi cơ, chúng vốn chỉ là dăm khối tuyết cứng được đắp trong những lúc rảnh tay, và hiện đang thấp lè tè so với mức cần thiết. Rốt cuộc, Lake phải cho toàn thể đội ngũ nhân sự gác hết mọi công việc khác lại để quay sang xây chúng.
Phải sau bốn giờ thì Lake mới sửa soạn kết thúc cuộc điện, bảo rằng nhóm của ông sẽ đi nghỉ một khi thành vách các lán phi cơ đã cao hơn chút, và khuyên tất cả chúng tôi hãy đi nghỉ cùng lúc với họ. Ông thân mật trò chuyện mấy câu với Pabodie qua đài, một lần nữa tán dương bộ khoan hết sức tuyệt diệu đã giúp mình có được phát hiện này. Atwood cũng gửi lời hỏi thăm và ngợi khen. Tôi nhiệt liệt chúc mừng Lake, thừa nhận rằng thực hiện một chuyến thám hiểm về phía Tây như ông là rất đúng đắn, và tất cả chúng tôi nhất trí sẽ tái liên lạc qua vô tuyến với nhau vào lúc mười giờ sáng. Nếu khi ấy gió đã lặng, Lake sẽ điều một phi cơ đến đón nhóm ở trại tôi. Trước khi đi nghỉ, tôi nhắn nốt cho tàu Arkham một lời cuối, căn dặn họ hãy chỉ công bố với thế giới bên ngoài một phiên bản tiết giảm của tin tức hôm nay thôi, bởi câu chuyện đầy đủ nghe điên rồ quá, chưa có thêm bằng cớ chứng thực thì dễ chừng sẽ khiến dư luận lao nhao ngờ vực.
(Hết chương II)
---
Phần trước: Chương I (2)
[1] Liên đại địa chất thứ hai trong bốn liên đại địa chất của lịch sử Trái Đất, đại diện cho quãng thời gian từ 4 tỷ đến 2,5 tỷ năm trước. Đây là giai đoạn các vi sinh vật sống sớm nhất từng được con người biết đến xuất hiện. [N.D.]
[2] Còn được gọi là bờ biển Nữ hoàng Mary. Đây là một vùng ven biển nằm rất xa về phía Tây của vùng đất Victoria. Tên khu vực này được đặt theo Nữ hoàng Mary (1867 - 1953) của Anh. [N.D.]
[3] Phần bờ biển nằm kế bên vùng đất Nữ hoàng Mary về phía Đông. Tên khu vực này được đặt theo Trung úy Samuel R. Knox (1811-1883), thuyền trưởng một con tàu thuộc đoàn thám hiểm đã phát hiện ra nó. [N.D.]
[4] Một thời kỳ địa chất kéo dài từ khoảng 201,4 triệu năm tới khoảng 145 triệu năm trước. [N.D.]
[5] Một thời kỳ địa chất kéo dài từ khoảng 145 triệu năm tới khoảng 100,5 triệu năm trước. Thuật ngữ này hiện đã lỗi thời, và ngày nay, khi nhắc đến giai đoạn ấy, người ta thường hay sử dụng các đơn vị thay thế là “thế Creta Sớm”, “thế Phấn Trắng Sớm”, hoặc “thế Phấn Trắng Hạ”. [N.D.]
[6] Một thời kỳ địa chất kéo dài từ khoảng 298,9 triệu năm tới khoảng 251,9 triệu năm trước. Còn được gọi là “kỷ Nhị Điệp”. [N.D.]
[7] Một thời kỳ địa chất kéo dài từ khoảng 251,9 triệu năm tới khoảng 201,4 triệu năm trước. Còn được gọi là “kỷ Tam Điệp”. [N.D.]
[8] Một thời kỳ địa chất kéo dài từ khoảng 252 triệu năm tới 66 triệu năm trước, bao gồm các kỷ Trias, Jura, và Creta. [N.D.]
[9] Một thời kỳ địa chất kéo dài từ khoảng 66 triệu năm tới khoảng 2,6 triệu năm trước. Thuật ngữ này hiện đã lỗi thời, và ngày nay, khi nhắc đến giai đoạn ấy, người ta thường hay sử dụng các đơn vị thay thế là “kỷ Paleogen” (còn gọi là “kỷ Cổ Cận”, kéo dài từ khoảng 66 triệu năm tới khoảng 23 triệu năm trước) và “kỷ Neogen” (còn gọi là “kỷ Tân Cận”, kéo dài từ khoảng 23 triệu năm tới khoảng 2,58 triệu năm trước). [N.D.]
[10] Một thời kỳ địa chất kéo dài từ khoảng 145 triệu năm tới khoảng 66 triệu năm trước. Còn được gọi là “kỷ Phấn Trắng”. [N.D.]
[11] Một giai đoạn trong kỷ Paleogen. Thế Eocen (còn gọi là “thế Thủy Tân”) kéo dài từ khoảng 56 triệu năm tới khoảng 33,9 triệu năm trước. [N.D.]
[12] Một giai đoạn trong kỷ Neogen. Thế Miocen (còn gọi là “thế Trung Tân”) kéo dài từ khoảng 23 triệu năm tới khoảng 5,33 triệu năm trước. [N.D.]
[13] Một họ động vật ăn cỏ có họ với ngựa, đã tuyệt chủng từ khoảng 33 triệu năm trước. [N.D.]
[14] Còn gọi là “Merycoidodon”. Đây là một họ động vật ăn cỏ có họ với lạc đà, đã tuyệt chủng từ khoảng 16 triệu năm trước. [N.D.]
[15] Còn gọi là “Brontotheriidae”. Đây là một họ động vật có vú trông khá giống tê giác, mặc dù thực chất có họ hàng gần với ngựa hơn. Chúng đã tuyệt chủng từ khoảng 34 triệu năm trước. [N.D.]
[16] Chỉ ba chủng lạc đà không đến từ Tân Thế Giới. Lạc đà đích thực bao gồm: lạc đà một bướu, lạc đà hai bướu hoang, và lạc đà hai bướu. [N.D.]
[17] Một giai đoạn trong kỷ Paleogen. Thế Oligocen (còn gọi là “thế Tiệm Tân”) kéo dài từ khoảng 33,9 triệu năm tới khoảng 23 triệu năm trước. [N.D.]
[18] Một họ bọt biển thuộc lớp Hyalospongiae, đã tuyệt chủng từ khoảng 38 triệu năm trước. Hóa thạch của chúng thường có hình chiếc bình hoặc hình nấm. [N.D.]
[19] Một thời kỳ địa chất kéo dài từ khoảng 443,8 triệu năm tới khoảng 419,2 triệu năm trước. [N.D.]
[20] Một thời kỳ địa chất kéo dài từ khoảng 485,4 triệu năm tới khoảng 443,8 triệu năm trước. [N.D.]
[21] Một giai đoạn trong kỷ Đệ Tứ (tức kỷ địa chất hiện tại, kéo dài từ khoảng 2,58 triệu năm trước tới ngày nay). Thế Pleistocen (còn gọi là “thế Canh Tân”) kéo dài từ khoảng 2,58 triệu năm tới khoảng 11.700 năm trước. [N.D.]
[22] Một thời kỳ địa chất kéo dài từ khoảng 538,8 triệu năm tới 252 triệu năm trước, bao gồm các kỷ Cambri, Ordovic, Silur, Devon (kéo dài từ khoảng 419,2 triệu năm tới khoảng 358,9 triệu năm trước), Cacbon (còn gọi là “kỷ Thạch Thán”, kéo dài từ khoảng 358,9 triệu năm tới khoảng 298,9 triệu năm trước), và Permi. [N.D.]
[23] Một loại đá biến chất, cấu thành chủ yếu từ hoạt thạch (còn gọi là “bột talc”) và một số ít khoáng chất khác. Độ cứng của đá được định đoạt bởi hàm lượng hoạt thạch mà nó chứa, nhưng nhìn chung, đá xà phòng thường khá mềm, và có thể còn mang lại cảm giác giống như một bánh xà phòng khi sờ vào. [N.D.]
[24] Một ngành động vật thủy sinh, đại đa số sống dưới đáy biển và đại dương. Các cá thể trưởng thành của những loài thuộc ngành này có cấu trúc cơ thể đối xứng xuyên tâm (thường là dưới dạng đối xứng tỏa tròn năm nan hoa bánh xe), chẳng hạn như sao biển, nhím biển, và hải sâm. [N.D.]
[25] Một nghệ sĩ người Mỹ đa tài, tác giả của nhiều câu chuyện kỳ ảo và giả tưởng mang màu sắc kinh dị, quái đản. Smith là một người bạn của Lovecraft, và các địa danh, thần thoại, cùng thực thể giả tưởng do ông sáng tạo thỉnh thoảng vẫn được Lovecraft đưa vào trong thế giới các tác phẩm của mình. [N.D.]
[26] Một thực thể ngoài hành tinh cổ xưa với hình dạng gớm guốc, rất hay được nhắc đến trong các tác phẩm giả tưởng của Lovecraft. Cái tên “Cthulhu” ngày nay đã trở thành một thuật ngữ mang tính thương hiệu, với “thần thoại Cthulhu” được sử dụng như tên gọi phổ thông cho nhóm các tác phẩm thuộc chung bối cảnh giả tưởng nơi Cthulhu và các thực thể liên quan khác tồn tại. [N.D.]
[27] Tức các cụm tế bào thần kinh nằm ngoài hệ thống thần kinh trung ương. [N.D.]
[28] Còn gọi là “nang bào tử”. Đây là một cấu trúc dạng khoang kín, nơi bào tử được hình thành và lưu trữ cho đến khi đã sẵn sàng phát tán ra ngoài. [N.D.]
[29] Cả tản và nguyên tản đều là những thể non của thực vật sinh sản bằng bào tử. [N.D.]