(0)

The First Men in the Moon (Tiên phong lên Mặt Trăng) - CHƯƠNG 1 | H.G. Wells

Tiên phong lên Mặt Trăng đã sắp ra mắt, cùng đọc preview một chương của cuốn Sci Fi kinh điển này nhé ;)

Bedford gặp Cavor tại Lympne

Chỉ đến khi ngồi viết những dòng này dưới tán dây leo và nền trời Bắc Ý xanh vắt, tôi mới ngỡ ngàng nhận ra toàn bộ chuyến phiêu lưu phi thường của mình với Cavor hoàn toàn do tình cờ mà có. Bất cứ ai cũng có thể thay thế vị trí tôi. Tôi bị cuốn theo guồng quay số phận ngay khi tưởng cuộc đời mình sẽ chẳng còn gặp chút xáo trộn nào nữa. Tôi đến Lympne vì nghĩ đây là nơi bình yên nhất trên đời. “Ở đây,” tôi tự nhủ, “mình sẽ được yên ổn làm việc!”

Sau đó sự tình ra sao nằm gọn cả trong cuốn sách bạn đang cầm trên tay này đây. Thật đúng là người tính không bằng trời tính. Xin mạn phép thú thực rằng cách đây chưa lâu, tôi đã gặp một loạt thất bại trên thương trường. Đến giờ khi đời sống đã trong nhung lụa, tôi mới đủ gan nhắc lại giai đoạn túng quẫn ấy. Tôi thậm chí còn dám thừa nhận những bão tố giáng xuống đầu tôi một phần cũng do bản thân tự gieo gió mà thành. Có thể nếu chuyển sang các lĩnh vực khác, mọi người sẽ nhận thấy tôi không phải hạng bất tài. Khổ nỗi kinh doanh không phải sân diễn của tôi. Nhưng thời đó tôi hãy còn non trẻ, mà tuổi trẻ thể hiện ra ngoài qua muôn hình vạn trạng. Trong trường hợp của tôi, nó thể hiện ở cái tính kiêu ngạo, tưởng mình là thương nhân đại tài. Giờ nếu đếm theo xuân tôi vẫn trẻ chán, song những gì xảy đến với tôi đã gọt bớt phần nào cái non trẻ trong tâm tính. Bớt được non trẻ nhưng có khôn ngoan lên chút nào không thì còn phải xem lại đã.

Đi sâu vào giải thích nguyên cớ đưa đẩy tôi đến với Lympne tại vùng Kent có lẽ sẽ hơi thừa thãi. Thời buổi này kinh doanh luôn mang chút màu phiêu lưu, và phiêu lưu thì phải mạo hiểm. Làm kinh doanh còn đòi hỏi phải biết cho và nhận, và tôi mãi lâu sau mới miễn cưỡng thực hiện nghĩa vụ cho đi. Ngay cả khi đã phủi tay bước đi rồi, tôi vẫn bị một tay chủ nợ khó ưa giở trò. Hẳn bạn đã từng gặp một kẻ luôn cho rằng mình là đúng như tên này, hoặc bạn mới chỉ từng một lần tự thân cảm thấy như thế. Hắn chơi tôi một vố đau điếng. Cuối cùng tôi thấy mình chỉ còn đường đi viết kịch, trừ khi muốn bạc mặt đứng trông quầy hàng kiếm cơm. Là người có chút óc tưởng tượng kèm gu nghệ thuật quý phái, tôi quyết định bằng mọi giá không để bản thân phải qui phục số phận. Cái hồi đó, ngoài sự tự tin về óc kinh doanh, tôi luôn nghĩ mình đủ năng lực cho ra đời một tuyệt phẩm sân khấu. Tôi tin không hiếm người nghĩ như tôi. Tôi biết bên cạnh kinh doanh, chỉ viết kịch mới là nghề mang tính biến hóa khôn lường, và có lẽ lối nghĩ ấy đã ảnh hưởng quyết định của tôi. Thực tình mà nói, tôi trước nay thậm chí còn coi vở kịch chưa viết kia là kế hoạch dự phòng cho ngày mình sa cơ lỡ vận. Ngày ấy đã đến, và tôi phải cầm bút thôi.

Chẳng bao lâu sau tôi ngộ ra rằng viết kịch không phải công việc một sớm một chiều. Dự định ban đầu của tôi là dành ra mười ngày lao động nghệ thuật, và trong thời gian ấy, tôi cần chỗ chui ra chui vào. Chính thế mà tôi tới Lympne. Tôi tự thấy mình tốt số khi xoay xở kiếm được một căn nhà gỗ nhỏ[1]. Hợp đồng mướn nhà kéo dài ba năm. Tôi bày biện vài ba món đồ nội thất, và trong thời gian sáng tác tôi tự lo chuyện bếp núc. Tay nghề nấu nướng của tôi rất đáng chém đầu. Nhưng ít nhất nó cũng có tí vị. Tôi có một bình pha cà phê, một cái nồi luộc trứng, một nồi khác luộc khoai, và một cái chảo rán để làm xúc xích và thịt ba chỉ. Đời tôi phú quý vậy đó. Không ai lúc nào cũng lên voi được, nhưng xuống chó cũng không đến mức quá khó khăn. Tôi mua chịu một thùng bia mười tám ga-lông[2] về, và ngày nào một anh bán bánh mỳ thật thà cũng ghé qua chỗ tôi. Mức sống không sung túc như dân Sybaris[3], nhưng tôi đã kinh qua những tình cảnh còn bi đát hơn. Tôi nhìn anh bán bánh mỳ mà thấy thương. Thật là một con người tử tế. Nhưng chẳng biết liệu tôi có xoay ra tiền trả anh ta được không.

Nếu muốn tìm sự yên tĩnh, Lympne là lựa chọn hiển nhiên. Nó nằm ở bãi đất sét thuộc hạt Kent, và nhà tôi ở sát thành vách đá nhìn ra biển, cách mép sóng bởi bãi lầy Romney. Ẩm trời là nơi đó gần như không ai vào được, và tôi nghe đồn rằng đã mấy lần cậu đưa thư phải buộc ván dưới chân để đi qua những chỗ lầy lội. Tôi chưa được tận mắt chứng kiến nhưng có thể hình dung ra. Nhà cửa lều lán trong làng không nhiều nhưng ai cũng đặt chổi sể bên ngoài để quét bớt đất đi. Nhiêu đó chắc đủ để mường tượng vẻ ngoài của khu này. Làng có khi đã mất tích từ lâu nếu không gắn với một kí ức lịch sử đang dần nhạt nhòa. Thời La Mã, nó từng là một cảng biển của Anh, Portus Lemanis, còn bây giờ lại xa biển đến bốn dặm. Khắp dọc con đồi dốc là đá tảng và các khối gạch đá của người La Mã. Từ nơi ấy, đâm thẳng tuột về phương Bắc là phố Watling cổ. Tôi thường đứng trên đồi ngẫm ngợi về mọi thứ, về những con thuyền galê[4] và các binh đoàn, về tù nhân và những kẻ cầm quyền, đám đàn bà, tiểu thương, những người vãn cảnh như tôi, bao cái náo nhiệt, cái ồn ào cùng lanh canh ra vào cảng. Giờ sót lại chỉ còn mấy khối đổ nát trên một sườn cỏ, cùng với một hai con cừu và cái chàng tôi. Nơi bến cũ nay đã thành bãi lầy, quét vòng ra tận vùng Dungeness phía xa, chấm điểm đây đó là những lùm cây và đôi toà tháp nhà thờ trung cổ cũ đang dần theo bước Lemanis về với quên lãng.

Phải công nhận tôi chưa từng thấy cảnh nào đẹp như khi nhìn ra bãi lầy. Dungeness chắc cách đó mười lăm dặm, nằm như con truyền trôi giữa đại dương. Xa hơn về phía Tây là những ngọn đồi vùng Hastings đang tắm nắng hoàng hôn. Khi thì chúng hiện rõ và rất gần gũi, lúc chúng lại nhạt nhoà lảng ra xa, và lắm khi thời tiết đỏng đưa lại giấu biến chúng đi. Và những mảng đầm lầy lân cận giăng đầy hố mương, kênh đào lập loè sáng.

Cửa sổ bàn làm việc của tôi nhìn ra phía chân trời nơi đỉnh đồi, và chính từ ô cửa sổ này tôi lần đầu bắt gặp Cavor. Hôm đó tôi đang vật lộn với tờ kịch bản, đầu óc đăm đăm nghĩ sao viết lách lại khó thế này, và tự nhiên ông ta khiến tôi chú ý.

Hoàng hôn đương buông, góc trời rực lên một gam xanh lá pha vàng lặng lẽ, và trên cái nền ấy xuất hiện một bóng hình kì lạ.

Ông ta vóc người thấp lùn, tròn trịa, chân cẳng mảnh khảnh, đi đứng hơi cà giật. Ông giấu bộ óc thiên tài dưới chiếc mũ tường cầu[5], trên mình vận áo choàng, dưới đánh quần chẽn đạp xe cùng cặp vớ cao tận gối. Có hỏi tại sao ông ta ăn vận như thế thì tôi cũng chịu, bởi con người này không đi xe đạp mà cũng chẳng chơi tường cầu. Vì một lí do bí ẩn nào đó, ông ta lựa chọn một phong cách thời trang rất hổ lốn. Ông ta vừa đi vừa khoa chân múa tay, vừa giật giật cái đầu và rù rì gì đó trong mồm. Tiếng rù rì của ông ta nghe như đồ điện kêu vậy. Bạn chắc chưa từng được nghe âm thanh nào tương tự đâu. Và cứ thỉnh thoảng ông ta lại hắng giọng khùng khục.

Trời vừa mới mưa, thế nên dáng đi co giật của ông ta trên con đường trơn trượt càng lồ lộ. Vừa đến đứng chắn giữa Mặt Trời thì ông ta dừng chân, rút đồng hồ ra, lưỡng lự. Thế rồi ông ta giật người quay lại và vội vã rảo bước, tứ chi không múa may nữa. Một sải của ông ta phải dài cả dặm nhờ đôi bàn chân to bản, đặc biệt lại còn dính đầy đất sét nên trông còn khổng lồ hơn.

Chuyện xảy ra ngay hôm đầu tiên tôi đến đây, khi hứng khởi của tôi với vở kịch vẫn còn hừng hực. Thế nên tôi coi sự kiện đó chỉ là một xao nhãng nhỏ, không quá năm phút bị bỏ phí. Tôi quay về với bản thảo của mình. Nhưng đến chiều tối hôm sau, cái bóng hình đó lại xuất hiện không lệch đến một giây, và chiều tối hôm sau cũng thế, và mọi chiều tối trời không mưa đều thế. Tập trung vào kịch bản trở thành công việc khó nhằn. “Quỷ tha ma bắt cái lão kia,” tôi lẩm bẩm, “lão đang tập làm con rối à?” Mấy chiều liền tôi ngồi chì chiết ông ta đủ kiểu. Thế rồi cái khó chịu dần nhường chỗ cho sự ngạc nhiên và tính tò mò. Sao tự nhiên lại có người làm cái trò đó? Đến chiều hôm mười bốn thì tôi chịu không nổi nữa, và vừa thấy ông ta ló ra tôi liền mở tung cửa sổ, trèo qua hiên và tiến thẳng đến chỗ ông ta lúc nào cũng dừng lại.

Khi tôi đến nơi, ông ta đang lôi đồng hồ ra. Con người này sở hữu một gương mặt béo tròn, hồng hào cùng cặp mắt nâu đỏ. Đây là lần đầu tiên tôi để ý thấy những điều này bởi trước giờ ông ta toàn đứng hướng ngược sáng với tôi. “Bác gì ơi, xin chờ giây lát,” tôi nói với theo khi thấy ông ta bắt đầu xoay người. Ông ta trố mắt lên. “Giây lát à?” Ông ta lặp lại. “Được thôi. Mà nếu cậu muốn nói chuyện với tôi thêm một chút nữa và không cảm thấy ngại lắm, vì đã hết giây lát rồi đó, cậu có thể đi bộ cùng tôi chút không?”

“Tất nhiên rồi,” tôi đáp lại, tiến bước song song cùng ông ta.

“Thói quen của tôi luôn rất đều đặn. Thời gian xã giao của tôi thì… hạn chế lắm.”

“Đây là lúc bác đi thể dục ạ?”

“Đúng. Tôi ra đây ngắm cảnh hoàng hôn.”

“Không.”

“Sao cơ?”

“Bác có ngắm bao giờ đâu.”

“Không bao giờ ngắm ư?”

“Không. Tôi quan sát bác đã mười ba ngày rồi, và chưa một lần nào tôi thấy bác nhìn về phía hoàng hôn. Không hề.”

Ông ta nhíu mày lại như thể đang gặp bài toán khó.

“À, tôi thích cái nắng… cái không khí quanh đây… Tôi đi dọc con đường này, qua cái cổng đằng kia…,” ông ta giật đầu ra sau vai…, “và vòng quanh…”

“Không. Bác có làm thế bao giờ đâu. Toàn chuyện đâu đâu. Làm gì có đường đi như thế. Như tối nay chẳng hạn…”

“À! Tối nay! Để xem nào. À! Tôi vừa mới liếc nhìn đồng hồ, thấy mình đã quá ba phút so với khung nửa tiếng hàng ngày, không còn đủ thời gian đi vòng nữa, và tôi quay…”

“Hôm nào cũng vậy.”

Ông ta nhìn tôi, trầm ngâm. “Giờ nghĩ lại thì có khi thế thật. Mà cậu muốn nói chuyện gì với tôi?”

“Chuyện gì à? Đây chứ gì!”

“Đây?”

“Vâng. Sao bác lại làm vậy? Đêm nào bác cũng đến đây gây ồn…”

“Gây ồn?”

“Như thế này này.” Tôi bắt chước tiếng rù rì của ông ta. Ông ta nhìn tôi. Rõ ràng cái tiếng rù rì kia khiến con người ấy thấy rất khó chịu. “Tôi làm vậy à?” Ông ta hỏi.

“Chiều nào cũng thế.”

“Tôi có biết đâu.”

Ông ta đứng khựng lại, nhìn tôi đầy nghiêm trọng. “Chả nhẽ,” ông ta nói, “tôi bị thành tật rồi à?”

“Có vẻ là vậy đó nhỉ?”

Ông ta lấy hai ngón bấm môi dưới, dán mắt vào vũng nước dưới chân.

“Tôi hay phải nghĩ nhiều lắm,” ông ta nói. “Và cậu muốn biết tại sao à? Anh bạn trẻ à, tôi xin cam đoan tôi không biết tại sao mình lại làm như vậy, thậm chí tôi còn không ý thức được mình đang thực hiện những hành động như vậy nữa kia. Giờ nghĩ lại, cậu nói có lí đấy; tôi chưa từng đi qua cánh đồng này…. Hành động của tôi gây khó chịu cho cậu đúng không?”

Chẳng hiểu vì sao tôi bắt đầu xuống bước. “Khó chịu thì không,” tôi nói. “Nhưng mà… bác cứ thử tưởng tượng mình đang ngồi viết kịch xem!”

“Tôi chịu thôi.”

“Không thì bất cứ hành động nào cần tập trung cũng được.”

“A!” Ông ta reo lên. “Phải rồi,” và bắt đầu suy ngẫm. Nét mặt ông ta trông khổ sở đến mức tôi lại tiếp tục xuống bước. Xét cho cùng, gặng hỏi một người lạ mặt tại sao ông ta rù rì trên cái con đường chẳng của riêng ai thì hơi quá đáng.

“Mong cậu hiểu,” ông ta lí nhí nói, “nó thành tật rồi.”

“À vâng, tôi hiểu.”

“Tôi sẽ bỏ ngay.”

“Nếu bác thấy bất tiện thì không bỏ cũng được. Đằng nào thì tôi cũng không nên chõ mũi vào. Đây là quyền tự do cá nhân mà.”

“Không hề đâu,” ông ta nói, “không hề chút nào. Tôi mang ơn cậu rồi. Tôi cần đề phòng những chuyện như thế này. Sau này tôi sẽ chú ý. Phiền cậu thêm lần nữa nhé? Cái tiếng đó như thế nào ấy nhỉ?”

“Đại khái như này,” tôi đáp. “Zuzzoo, zuzzoo. Nhưng mà bác…”

“Cảm ơn cậu quá cơ. Thật ra tôi hiểu mình hay bị đãng trí đến thế nào. Hành động của cậu là rất dễ hiểu. Hoàn toàn dễ hiểu. Vâng, tôi mang ơn cậu rồi. Chuyện này sẽ chấm dứt. Giờ có vẻ tôi đã lỡ ép cậu đi hơi xa quá rồi.”

“Hi vọng tôi không thất lễ…”

“Không sao, không sao cả.”

Chúng tôi đứng nhìn nhau một lát. Tôi ngả mũ chúc ông ta một tối vui vẻ. Ông ta lắp bắp đáp lại, và rồi chúng tôi đường ai ngả nấy.

Khi ra đến thang lên nhà, tôi nhìn lại hình bóng đang dần khuất đi kia. Dáng đi của ông ta đã khác. Ông ta có vẻ yếu ớt, co rúm lại, trông nghịch hẳn với cái điệu bộ tay chân vung vẩy, mồm rù rà rù rì zuzzoo, khiến tôi bất giác thấy thảm hại quá chừng. Tôi đứng nhìn cho đến khi ông ta khuất hẳn. Thế rồi thầm khấn trong lòng hồi nãy mình không làm gì quá vô duyên, tôi quay vào nhà và trở về với vở kịch.

Chiều tối hôm sau chẳng thấy bóng ông ta đâu cả, hôm sau nữa cũng thế. Dẫu vậy, con người ấy vẫn cứ lởn vởn trong tâm trí tôi, và tôi nảy ra ý tưởng đưa ông ta vào vở kịch của mình dưới vai một nhân vật gây hài ủy mị. Đến ngày thứ ba thì ông ta sang nhà tôi.

Mới đầu tôi chẳng hiểu nguyên cớ cuộc viếng thăm này là gì. Ông ta nói chuyện xã giao rất lịch sự, rồi bất thình lình chuyển sang sự vụ sự việc. Ông ta muốn mua căn nhà gỗ này của tôi.

“Mong cậu hiểu,” ông ta nói, “là tôi không đổ thừa cho cậu cái gì hết đâu, chỉ có điều cậu đã phá mất thói quen của tôi, và lịch hàng ngày của tôi giờ đảo lộn hết cả. Tôi đi bộ qua đây đã nhiều năm, rất nhiều năm. Hẳn tôi cũng đã rù rì trong thời gian đó…. Giờ có cậu vào tôi chẳng được làm như thế nữa!”

Tôi đề nghị ông ta đi theo hướng khác.

“Không. Không hướng khác nào cả. Đây là hướng duy nhất. Tôi hỏi rồi. Bây giờ, cứ bốn giờ chiều, tôi lại đâm đầu vào ngõ cụt.”

“Nhưng bác à, nếu điều này quan trọng với bác đến vậy…”

“Tối quan trọng. Thế này, tôi… tôi là một người khám phá… tôi nghiên cứu khoa học. Tôi sống…” Ông ta dừng lại, ra dáng nghĩ ngợi. “Ngay đằng đó,” ông ta nói, tay phóng thẳng ra tí thì chọc lòi mắt tôi. “Căn nhà có ống khói trắng ngay trên ngọn cây kia kìa. Và tình cảnh của tôi bất thường lắm, rất bất thường. Tôi đang sắp hoàn thiện một trong những… những cuộc minh chứng… tôi xin cam đoan đây là một trong những cuộc minh chứng quan trọng nhất từng được thực hiện. Nó đòi hỏi phải liên tục tư duy, liên tục đầu tư trí lực. Và chiều tối là thời gian tôi làm việc năng suất nhất! Sùng sục bao ý tưởng mới… bao điểm nhìn mới.”

“Thế bác cứ đi đi, có sao đâu?”

“Khác chứ. Tôi sẽ bị ngại. Tôi sẽ mường tượng ra cảnh cậu ngồi bên bản thảo quan sát tôi với ánh mắt khó chịu thay vì tập trung nghĩ về công việc. Không! Tôi phải mua cái nhà này.”

Tôi ngẫm ngợi. Lẽ dĩ nhiên tôi muốn suy nghĩ cho thấu đáo trước khi phát ngôn điều gì mang tính quyết định. Hồi đó tôi máu kinh doanh lắm, bán buôn luôn khiến tôi bị mê hoặc; nhưng thứ nhất đây không phải nhà tôi, kể cả bán được giá hời tôi vẫn sẽ bị rầy rà trong việc nhận hàng hóa các thứ nếu chủ nhà đánh hơi được cái thương vụ này, và thứ hai là tôi thì đang, à… vừa mới phá sản mà chưa được phục quyền[6]. Đây rõ là một phi vụ cần tính trước lường sau chu đáo. Ngoài ra, việc ông ta đang theo đuổi một phát minh chưa biết chừng sẽ có giá trị khiến tôi thấy quan tâm. Tôi muốn tìm hiểu thêm về công trình nghiên cứu của ông ta. Không phải tôi có ý đồ xấu xa nào cả, chỉ là nó sẽ giúp tôi giải trí trong quá trình viết kịch. Tôi dò thử mấy câu.

Ông ta bộc bạch rất hồ hởi. Được một lúc thì cuộc đối thoại chuyển thành độc thoại. Ông ta nói như thể đã kìm nén lâu ngày hoặc đã nhiều lần tự dợt lại bài nói với bản thân. Ông ta nói triền miên cả tiếng đồng hồ, và xin thú thực là tôi thấy bài nói hơi khô tai. Nhưng trong lúc chịu trận, tôi vẫn trải qua cái cảm giác thỏa mãn con người ta chỉ có được khi bỏ bê công việc của mình. Trong lần đầu đàm đạo đó tôi chẳng lượm lặt được mấy tí về công việc của ông ta. Phân nửa những gì ông ta nói là từ ngữ chuyên ngành lạ hoắc, và có đôi chỗ ông ta minh họa bằng thứ phương pháp ông ta gọi là toán học căn bản, hí hoáy dùng bút chì tính toán trên chiếc phong bì, đến giả vờ hiểu cũng khó. “Vâng,” tôi nói, “vâng. Bác tiếp đi!” Mặc dù vậy, tôi vẫn nghe ra vừa đủ để thấy ông ta không phải một gã gàn dở đang mày mò lung tung. Bất chấp vẻ ngoài cổ quái, ông ta có thần thái khiến tôi không coi thường được. Cho dù phát kiến của ông ta là gì, đó cũng là một thứ có thể ứng dụng để chế máy móc. Ông ta kể về xưởng chế tác của mình, và về ba người trợ lí gốc thợ mộc ông đã huấn luyện. Hiện giờ từ xưởng chế tác đến văn phòng cấp bằng sáng chế chỉ còn một bước ngắn nữa thôi. Ông ta mời tôi đến thăm quan mọi thứ. Tôi nhận lời ngay, đồng thời nói một hai câu nhấn mạnh rằng mình rất quan tâm. Đề nghị bàn giao lại căn nhà tiếp tục được treo ở đó.

Mãi sau ông ta mới đứng dậy ra về, gửi lại một lời xin lỗi vì bắt tôi tiếp quá lâu. Ông ta bảo được nói về công việc mình làm là một thú vui ông ta hiếm hoi lắm mới có dịp hưởng. Chẳng mấy khi kiếm được người nghe thông minh như tôi, trong khi giới khoa học ông ta rất ít giao thiệp.

“Nhỏ nhen lắm,” ông ta giải thích; “mưu toan lắm! Thực tình, cứ có ai ra được ý tưởng mới mẻ, dễ dàng phát triển là… Tôi không muốn độc miệng, nhưng mà…”

Tính tôi hay bốc đồng. Tôi đưa ra một lời đề nghị có phần khinh suất. Nhưng mong bạn hãy nhớ rằng suốt mười bốn ngày nay tôi phải ru rú một mình ở Lympne viết kịch, và lòng dạ tôi hãy còn hơi ăn năn vì đã phá thói quen đi bộ của con người này. “Sao bác không,” tôi mở lời, “biến đây thành một thói quen mới? Thay cho thói quen bị tôi phá đó? Ít nhất là đến khi ta giải quyết xong chuyện căn nhà gỗ này. Bác muốn kiểm lại công việc trong đầu. Bác vẫn thường làm vậy khi đi bộ ban chiều. Không may là bây giờ mọi thứ khác rồi. Bác không xoay mọi chuyện về như cũ được đâu. Hay là bác cứ đến bàn thảo công việc của mình với tôi; coi tôi như bức tường giúp bật lại những suy tư bác trút ra? Tôi chắc chắn không đủ khả năng để ăn cắp ý tưởng của bác rồi… và tôi nào quen ai trong giới khoa học….”

Tôi ngưng lại. Ông ta đang cân nhắc. Rõ ràng đây là một đề nghị hấp dẫn với ông ta. “Nhưng tôi khiến cậu ngấy đến tận cổ mất,” ông ta nói.

“Bác nghĩ tôi thiếu đầu óc ư?”

“Ấy không; nhưng những thứ chuyên môn…”

“Đằng nào thì hôm nay bác cũng khiến tôi rất chi là hứng thú rồi.”

“Tất nhiên làm vậy thì lợi cho tôi quá. Còn gì bằng giải thích cho người khác để ý tưởng mình được thông suốt. Cho đến nay…”

“Ông bạn thân mến à, bác không cần phải nói thêm nữa đâu.”

“Nhưng cậu có rảnh thật không?”

“Cách nghỉ ngơi tốt nhất là thay đổi công việc mình làm,” tôi nói như đinh đóng cột.

Câu chuyện chấm dứt tại đây. Khi ra đến hiên nhà, ông ta quay lại nói với tôi. “Trước giờ tôi toàn mang ơn cậu.”

Tôi húng hắng giọng tỏ ý không hiểu.

“Cậu đã giúp tôi thoát khỏi tật rù rì lố bịch kia,” ông ta giải thích.

Nếu không nhầm thì khi ấy tôi đáp lại là mình rất hân hạnh giúp đỡ, và rồi ông ta quay đi.

Hẳn là dòng tư duy vừa được cuộc trò chuyện giữa chúng tôi khơi gợi đã quay lên nắm đầu tàu. Tay ông ta lại bắt đầu khua khoắng như thường lệ. Âm “zuzzoo” loáng thoáng vẳng lại theo chiều gió….

Thôi, đằng nào cũng không phải chuyện của mình….

Hôm sau ông ta lại đến, và cả ngày hôm sau đó nữa, rao giảng hai bài về vật lý học. Ông ta nói như thể mình đang giải thích rất dễ hiểu về “ête” và “ống lực,” và “thế năng hấp dẫn,” và nhiều thứ khác tương tự vậy, trong khi tôi ngồi trong chiếc ghế gấp và luôn mồm, “Vâng,” “Bác tiếp đi,” “Tôi hiểu rồi,” để ông ta có hứng giảng tiếp. Chủ đề này khó kinh tởm, nhưng hình như ông ta chẳng chút nghi ngờ khả năng lãnh hội của tôi. Mấy lần tôi tự hỏi thế này có phí thời gian không, nhưng ít nhất tôi cũng tránh xa được cái vở kịch khốn kiếp kia. Thi thoảng tôi như bừng hiểu ra điều gì đó, thế rồi tia sáng lé loi ấy ngay lập tức tắt lụi khi tôi cố níu nó lại. Có những lúc khả năng tập trung của tôi cạn kiệt hoàn toàn, và tôi ngồi trơ ra đó nhìn ông ta, lẩm nhẩm trong đầu có lẽ nên lấy con người này làm nhân vật chính trong một tấn hài kịch còn những thứ khác thì dẹp hết đi. Thế rồi tôi lại chợt hiểu được những gì ông ta nói một tí.

Tôi sang thăm nhà ông ta ngay khi có dịp. Nhà rộng rãi, nội thất bày biện rất cẩu thả; tôi tớ chẳng có ai ngoài ba người phụ tá, và từ chế độ ăn uống cho đến lối sống thường nhật của ông ta đều thấm đẫm vẻ giản đơn hiền triết. Ông ta uống nước lọc, ăn chay trường, và còn thực hiện bao điều rất qui củ nữa. Nhưng nhìn chỗ trang thiết bị của ông ta là bao ngờ vực tan biến hết. Từ tầng hầm cho đến áp mái đều rất ra dáng công vụ công việc. Trong một ngôi làng hẻo lánh mà có được chỗ như này kể cũng đáng ngạc nhiên. Các phòng tầng trệt đặt bàn thiết kế kèm nhiều thứ máy móc, lò bánh mì và chiếc máy rửa bát chạy hơi đã được chuyển thành một lò hun khá tử tế, chiếm dụng khu tầng hầm là các máy phát điện, và ngoài vườn là máy đo khí. Ông ta dẫn tôi đi thăm quan bằng cái say mê của một người sống đơn độc đã quá lâu. Con người ẩn dật này đang tuôn trào tự tin, và tôi là kẻ may mắn được cảm nhận lòng tự tin ấy.

Ba người phụ tá thực đúng là ví dụ điển hình của lớp “dân hàng thợ.” Tận tụy mặc dù đầu óc ù lì, khỏe mạnh, lịch sự, và luôn hăng hái. Người tên Spargus, chuyên quản việc nấu ăn và các công việc liên quan đến kim loại, gốc là thủy thủ; người thứ hai, Gibbs, là thợ mộc; và người thứ ba là một anh thợ làm vườn, giờ chuyển sang làm trợ lý. Họ đều là những người lao động tầm thường. Các công việc trí óc do Cavor đảm nhiệm. Nếu đem so với sự dốt nát của họ thì cái đầu tù mù của tôi còn đỡ chán.

Và giờ sang phần bản chất của nghiên cứu đang thực hiện. Thật không may, đến đây chúng ta sẽ gặp một chướng ngại khổng lồ. Tôi không phải nhà khoa học, và nếu cố giải thích mục đích thí nghiệm của Cavor bằng thứ ngôn ngữ đầy vẻ khoa học ông ta sử dụng, tôi e mình sẽ khiến không chỉ riêng các độc giả mà còn cả bản thân rối tung lên, và kiểu gì tôi cũng sẽ mắc những khiến bất cứ ai thường xuyên nghiên cứu toán học vật lý trong cái đất nước này cười thối mũi. Do đó, tôi tin rằng tốt nhất mình chỉ nên trình bày lại cách hiểu của bản thân bằng lời văn không chuẩn chỉnh, bỏ hết những câu cú hoa mỹ mang vẻ tri thức.

Mục tiêu nghiên cứu của Cavor là tìm ra một loại chất “phi xuyên thấu” đối với “mọi loại năng lượng bức xạ.” Ông ta dùng từ gì tôi quên mất rồi, nhưng “phi xuyên thấu” cũng đủ diễn giải khái niệm. Ông ta giảng cho tôi hiểu rằng “năng lượng bức xạ” là những thứ như ánh sáng và nhiệt độ, hoặc các tia Röntgen[7] gây dậy sóng dư luận tầm năm ngoái, hay tia sóng điện của Marconi[8], hoặc lực hấp dẫn. Ông ta nói những thứ này phát ra từ những vị trí trung tâm và tác động vào các vật thể ở xa, vậy nên chúng được gọi là năng lượng “bức xạ.” Gần như chất nào cũng phi xuyên thấu đối với một loại năng lượng bức xạ nào đó. Ví dụ như thủy tinh là chất xuyên thấu đối với ánh sáng, nhưng ít có khả năng xuyên thấu hơn hẳn so với nhiệt, vậy nên nó dùng làm màn chắn lửa rất tốt; còn phèn là chất xuyên thấu đối với ánh sáng, nhưng lại chặn lửa hoàn toàn. Ngược lại, hỗn hợp iốt pha với cacbon đisulfua sẽ chặn sáng hoàn toàn, nhưng lại gần như xuyên thấu đối với nhiệt. Nó sẽ khiến bạn không thấy được ngọn lửa, nhưng lại để hơi ấm của nó thoải mái chạm đến bạn. Kim loại không chỉ phi xuyên thấu đối với ánh sáng và nhiệt mà còn phi xuyên thấu đối với điện, mặc dù điện có thể xuyên qua cả hợp chất iốt và kính như thể chúng không tiếp xúc gì với nhau. Và còn nhiều ví dụ khác nữa.

Mọi chất nhân loại phát hiện ra đều “xuyên thấu” đối với lực hấp dẫn. Bạn có thể dùng đủ loại tấm che để ngăn ánh sáng và nhiệt, hoặc các tác động điện lực của Mặt Trời, hoặc hơi ấm của nền đất lên bất cứ vật thể nào; bạn có thể ngăn tia Marconi bằng một tấm kim loại, nhưng không thứ gì có thể ngăn được lực hấp dẫn của Mặt Trời hay lực hấp dẫn của Trái Đất. Nhưng tại sao không thứ gì thực hiện được nhiệm vụ này thì rất khó nói. Cavor không lí giải được tại sao một chất như vậy lại không tồn tại, và tôi thì không có cơ đưa cho ông ta câu trả lời. Từ trước đến giờ tôi chưa từng nghĩ một điều như vậy lại khả thi. Ông ta chứng minh bằng phương trình trên giấy tờ rằng chất đó không chỉ tồn tại mà còn phải thoả mãn một số điều kiện nhất định. Chỗ phương trình ấy hẳn không là gì đối với Kelvin[9], hoặc giáo sư Lodge[10], hoặc giáo sư Karl Pearson[11], hay bất cứ nhà khoa học lỗi lạc nào khác, nhưng chúng khiến não tôi nhũn ra như bùn. Một bản lập luận thật sắc bén. Mặc dù nó khiến tôi thấy rất ngạc nhiên và hứng khởi, viết lại các phương trình đó là điều không thể. “Vâng,” tôi nói liên mồm, “vâng; bác tiếp đi!” Để cho đỡ dài dòng, tôi xin phép nói gọn thế này: ông ta tin rằng mình có thể chế ra chất phi xuyên thấu đối với lực hấp dẫn từ một hợp kim phức tạp và một nguyên tố mới nếu tôi nhớ không nhầm là helium, chứa trong mấy chum đá bịt kín gửi từ London về. Chi tiết này đúng sai ra sao cần kiểm định lại, nhưng tôi gần như chắc chắn trong chỗ chum đá ấy là helium. Nó là một chất mang dạng khí mỏng tang. Giá mà khi đó tôi chịu ghi chép lại…

Nhưng thật tình thì sao mà tôi trước biết mình sẽ cần ghi chép chứ?

Dù trí tưởng tượng có tồi tàn đến đâu, hẳn bạn vẫn có thể hình dung tiềm năng phi thường của cái chất này và hiểu được cảm xúc của tôi khi ngộ ra cái mớ ngôn từ bòng bong phức tạp Cavor diễn giải từ nãy đến giờ mang ý nghĩa gì. Trời ơi, thế mà tôi định cho ông ta thành nhân vật hài kịch! Mất một lúc tôi mới chắc mình hiểu đúng ý ông ta, và tôi cẩn trọng không hỏi han câu gì có thể khiến con người này nhận ra rằng công lao mình giảng giải mấy ngày vừa rồi chẳng khác nào nước đổ đầu vịt. Khi ấy, tôi tin như đinh đóng cột rằng chế tạo ra chất kia chỉ là chuyện một sớm một chiều, nhưng lời kể khô không khốc của tôi không tài nào diễn tả nổi những gì tôi cảm thấy lúc bấy giờ, vậy nên bạn đọc hẳn sẽ khó đồng cảm nổi.

Tôi chả nhớ sau khi từ nhà ông ta về, mình có tập trung được vào vở kịch quá một tiếng không. Đầu óc tôi còn mải mơ mộng. Tiềm năng của chất kia dường như vô giới hạn; có nghĩ kiểu gì tôi cũng thấy nó sẽ trở thành khởi nguồn cho những phép màu và các cuộc cách mạng. Giả dụ ai đó cần nhấc một vật nặng lên, dù to lớn khổng lồ cỡ nào, anh ta chỉ cần đặt một miếng chất kia xuống bên dưới vật nặng, sau đó dùng cọng rơm để nhấc cũng được. Theo bản năng, tôi nghĩ ngay đến việc áp dụng nguyên lý này cho súng ống, tàu bọc thép, và đủ thứ công cụ chinh chiến khác, sau đó là tới vận tải hàng, hệ thống di chuyển, xây dựng, và mọi lĩnh vực ngành nghề con người sáng tạo ra. Được đặt chân vào căn phòng sẽ khai sinh ra một thời đại, không, một kỷ nguyên mới như thế này là cơ hội ngàn năm có một. Các ý tưởng xuất hiện và phát triển, phát triển không ngừng. Trong số đó, tôi mường tượng thấy cảnh mình khôi phục được thanh danh chốn thương trường. Tôi thấy viễn cảnh một công ty mẹ, vô số công ty con, trái phải xung quanh cơ man nào sản phẩm ứng dụng, bao hiệp hội và tổ chức độc quyền, các đặc ân, và quyền lợi liên tục bành trướng cho đến khi cả thế giới nằm gọn trong tay một công ty Cavorite to lớn phi thường.

Và tôi là một phần của nó!

Tôi không chần chừ gì hết. Dù thừa hiểu thế này là được ăn cả ngã về không, nhưng tôi vẫn thẳng tay đặt cược.

“Chúng ta sắp cho ra đời phát minh vĩ đại nhất từ trước đến nay,” tôi nói, cố ý nhấn vào từ “chúng ta.” “Nếu bác muốn đá tôi ra rìa, bác sẽ phải dí súng vào người tôi. Mai tôi sẽ sang làm anh thợ phụ thứ tư cho bác.”

Lòng nhiệt tình của tôi có vẻ đã khiến ông ta bất ngờ, nhưng không hề ra dáng đang ngờ vực hay tỏ thái độ thù địch gì cả. Thực tế thì ông ta còn trở nên nhún nhường là đằng khác. Ông ta nhìn tôi với ánh mắt nghi ngại. “Nhưng cậu thực sự nghĩ là…?” Ông ta mở lời. “Mà còn vở kịch cậu nữa! Vở kịch kia tính sao?”

“Nó bốc hơi rồi!” Tôi kêu lên. “Bác à, bác không nhận ra mình đang nắm giữ thứ gì sao? Bác không nhận ra mình sắp sửa làm gì ư?”

Tôi hỏi vậy thôi chứ chẳng mong nhận câu trả lời đâu, nhưng hóa ra ông ta không nhận ra thật. Mới đầu tôi tin không nổi. Ông ta mù tịt hoàn toàn. Thiên tài nhỏ bé này bấy lâu chỉ nghiên cứu lý thuyết! Khi nói rằng đây là nghiên cứu “quan trọng nhất” trần đời, ý ông ta chỉ là nó giúp chứng minh vô số giả thuyết, làm sáng tỏ được bao nhiêu vấn đề; ông ta không hề bận tâm đến chuyện chất mình đang chế có ứng dụng gì, vô cảm như một cái máy chế súng. Chất này tồn tại, và ông ta sẽ tạo ra nó! Còn lại thì xin mượn câu tiếng Pháp: V'la tout[12].

Quan điểm của ông ta về những việc không dính dáng đến mớ lý thuyết cực kì trẻ con! Nếu chế được chất kia, nó sẽ được truyền lại cho hậu thế dưới cái tên Cavorite hoặc Cavorine, và ông ta sẽ trở thành một thành viên F.R.S.[13], chân dung ông ta trở nên danh giá ngang những tập san khoa học tăm tiếng như Nature, cùng rất nhiều vinh dự tương đương. Ông ta chỉ thấy có vậy thôi! Nếu tôi mà không xuất hiện, con người này hẳn sẽ đem trình làng viên trọng pháo ấy như thể mình vừa tìm ra chủng muỗi mới. Và nó sẽ nằm đó, nhạt nhòa dần đi như bao phát kiến bé nhỏ khác giới khoa học đã tìm tòi đưa lại cho ta.

Sau khi nhận ra điều ấy, tôi lập tức chuyển sang vai diễn thuyết, còn Cavor trở thành người nói, “Cậu tiếp đi!” Tôi nhảy bật lên. Tôi đi vòng vòng quanh phòng, múa may tay chân như một gã đôi mươi. Tôi cố gắng giúp ông ta hiểu được trách nhiệm và nghĩa vụ của mình trong vấn đề này, trách nhiệm và nghĩa vụ của chúng tôi trong vấn đề này. Tôi đảm bảo với ông ta rằng tôi và ông ta sẽ kiếm đủ tiền tài để thực hiện bất cứ cuộc cách mạng xã hội nào mình muốn, rằng chúng tôi có thể sở hữu và điều khiển cả thế giới. Tôi vẽ cho ông ta hình ảnh những công ty và bằng sáng chế, các quy trình chế tạo bí mật. Dường như mức thấu hiểu của ông ta với những thứ trên cũng chẳng khác nào mức thấu hiểu của tôi với mớ toán học của ông ta. Gương mặt nhỏ hồng hào của ông ta dần lộ vẻ lúng túng. Ông ta lắp bắp mấy câu không quan tâm tiền bạc, nhưng tôi gạt phắt hết. Ông ta sẽ giàu, và ba câu lắp bắp của ông ta đáng vứt sọt rác. Tôi giảng cho ông ta hiểu tôi đã từng là người thế nào, và rằng tôi kinh nghiệm kinh doanh đầy mình. Khi đó tôi không nói với ông ta rằng tôi còn giải quyết chưa xong vụ phá sản bởi nó chỉ mang tính tạm thời, nhưng tôi tin mình đã giải thích được tại sao nghèo rớt mùng tơi mà vẫn dám khẳng định tiền tài này nọ. Ý niệm về một đế chế Cavorite độc quyền dần phát triển trong đầu chúng tôi, lố bịch như bao ý niệm tương tự khác. Ông ta sẽ chế ra nó, và tôi sẽ giúp nó bùng nổ.

Tôi bám lấy từ “chúng ta” dai như đỉa. “Bác” và “tôi” không còn tồn tại nữa.

Dự định của ông ta là dùng chỗ lợi nhuận tôi nói tài trợ cho công việc nghiên cứu, nhưng tất nhiên vấn đề này sẽ phải để sau. “Không sao,” tôi lớn tiếng, “không sao.” Tôi khăng khăng rằng điểm mấu chốt là chế cho xong đã.

“Đây sẽ là một chất,” tôi kêu lên, “không thể thiếu với mọi ngôi nhà, mọi cơ xưởng, mọi thành lũy, mọi tàu bè; có nhiều ứng dụng hơn cả thuốc bản quyền. Trong hàng vạn các giá trị của chất này, không giá trị nào không khiến chúng ta giàu có ngoài sức tưởng tượng cả, bác Cavor ạ!”

“Không!” Ông ta nói. “Tôi hiểu rồi. Thật khó tin ta lại có được nhãn quan hoàn toàn mới chỉ nhờ thảo luận với nhau!”

“Và tình cờ làm sao, bác đang nói chuyện với rất đúng người!”

“Tôi tin là không ai,” ông ta nói tiếp, “lại khinh bỉ giàu sang đến tột cùng cả. Nhưng tất nhiên vẫn còn vấn đề là…”

Ông ta ngưng nói. Tôi đứng im như tượng.

“Thì cậu biết đó, vẫn có thể xảy ra trường hợp chúng ta không chế được chất kia! Có thể nó là một trong những thứ trên lý thuyết thì nghe ổn, nhưng vào thực tế thì bất khả thi. Hoặc có thể trong quá trình chế tạo, chúng ta sẽ gặp trục trặc!”

“Có trục trặc ta sửa sau.” Tôi nói.

 

[1] Gốc là bungalow, loại nhà xây dựng đơn giản cho các thủy thủ và người lao động trung bình ở Anh thời xưa.

[2] Xấp xỉ 68 lít.

[3] Sybaris: một thành phố Hy Lạp cổ nằm ở Vịnh Taranto, nổi tiếng với đời sống rất xa hoa.

[4] Thuyền galê: một loại thuyền cổ bằng gỗ, sàn thấp, chạy bằng buồm và thường do nô lệ hoặc tù nhân chèo.

[5] Mũ đội khi chơi tường cầu, một môn thể thao của Anh (gốc là cricket).

[6] Ở Anh, khi phá sản, người phá sản sẽ bị giới hạn các hoạt động tài chính cho đến khi trả hết nợ.

[7] Röntgen: tên khoa học của tia X-quang.

[8] Marconi: tức Guglielmo Marconi, là một nhà phát minh Ý, được coi là cha để của ngành truyền thanh. Ông được biết đến nhiều nhờ những đóng góp trong lĩnh vực truyền sóng vô tuyến đường xa.

[9] Kelvin: tức Huân tước Kelvin, tên thật là William Thomson, là một nhà vật lý, toán học, nhà phát minh vĩ đại người Scotland. Tên Kelvin của ông cũng được đặt cho thang nhiệt độ tuyệt đối.

[10] Lodge: tức Oliver Joseph Lodge, một nhà vật lý học kiêm nhà văn người Anh, là người tham gia chế tạo máy vô tuyến điện đồng thời là nắm giữ bản quyền thiết bị.

[11] Karl Pearson: một nhà toán học Anh, được ghi nhận là người đã thành lập nên môn thống kê toán học.

[12] V'la tout: viết tắt của “voilà tout,” tạm dịch “có thế thôi.

[13] F.R.S.: viết tắt của Fellows of the Royal Society (Hội Hoàng Gia). Đây là một hiệp hội khoa học lâu đời nhất trên thế giới, đóng vai trò cố vấn khoa học cho chính phủ Anh.


P/S: Bookism hiện đang có dự án xuất bản truyện "Tiên phong lên Mặt Trăng" của H.G. Wells. Mọi người có thể vào đây tìm hiểu thêm và đừng quên ủng hộ bọn mình nhé ^_^ : 


các bài liên quan