(0)

Các tác phẩm khoa học viễn tưởng ra đời trước cả khoa học

Văn chương đã từng hình dung về những thành phố công nghệ diệu kỳ, du hành không gian, và cả người ngoài hành tinh khi cuộc Cách mạng Khoa học thậm chí còn chưa chập chững tiến bước.

Một nhà thám hiểm chế phi thuyền và gặp người ngoài hành tinh trên một thế giới khác. Những sinh vật ngoài hành tinh ấy là “giống người kỳ khôi vô cùng.” Họ cao gấp đôi loài người, phủ thứ màu mắt người chưa từng được chiêm ngưỡng; họ giao tiếp qua những nốt nhạc đầy ám ảnh. Sau đó nhà thám hiểm quay về Trái Đất.

Đây có vẻ như cái cốt chung của vô số truyện đăng trên các tạp chí cũng như tác phẩm truyện khoa học viễn tưởng trong giai đoạn một thế kỷ trở lại đây. Những đề tài tương tự cũng được các tác giả như Isaac Asimov, Ray Bradbury, và Arthur C. Clarke đề cập đến, đồng thời là cả những series truyền hình như The Twilight Zone và Star Trek, và những phim như Arrival. Nhưng câu chuyện vừa rồi không ra đời trong thế kỉ trước. Nhân vật nhà thám hiểm trong truyện, Domingo Gonsales, là người dẫn chuyện gia tưởng trong cuốn The Man in the Moone, tiểu thuyết của Francis Godwin, một giám mục của Giáo hội Anh. Truyện được xuất bản năm 1638.

Khoa học viễn tưởng được hiểu là hệ quả của nền khoa học hiện đại. Dưới cách nhìn nhận ấy, dòng văn này xuất hiện để giúp ta hiểu được sự bùng nổ của lượng kiến thức thực nghiệm và khả năng công nghệ trong suốt thế kỷ 17 và 18 — mô hình hệ mặt trời của Copernicus, những khám phá mới ở Thế Giới Mới, bước tiến trong y học, kính hiển vi. Các nhà phê bình như Brian Aldiss tranh luận rằng Frankenstein, kiệt tác năm 1818 của Mary Shelley, là cuốn tiểu thuyết sci fi đầu tiên bởi vì các sự kiện giả tưởng của nó không diễn ra nhờ pháp thuật hay phép màu, mà thần tuý là nhờ khoa học.

Ấy nhưng nhiều cuốn sách viết trong giai đoạn đỉnh điểm, hoặc thâm chí còn trước cuộc Cách mạng Khoa học cũng dùng cách kể chuyện đó. Điều làm nên sự thú vị của những cuốn sách này không chỉ nằm ở việc chúng phản ảnh trình độ khoa học ở thời điểm hiện tại, mà còn cho thấy sức ảnh hưởng của văn học đối với nghiên cứu khoa học. Như nhiều nhà khoa học đương thời đã nói Star Trek truyền cho họ niềm đam mê khám phá, hoặc công nghệ hiện đại được tiên báo bởi những câu chuyện từ nửa thế kỷ trướcc, The Man in the Moone tuyên truyền những ý tưởng như thuyết nhật tâm và sự tồn tại của người ngoài hành tinh.

Riêng mình khoa học viễn tưởng không khơi dậy cuộc Cách mạng Khoa học, nhưng các tác phẩm thời đó đã giúp ta mường tượng về những thực tại khác — trong một số trường hợp là từ rất lâu trước khi chúng trở thành hiện thực.

* * *

Danh sách các truyện đời đầu chứa những tác phẩm thuộc đủ loại quy chuẩn, chẳng hạn Utopia của Thomas More (1516), New Atlantis của Francis Bacon (1627), Somnium của Johannes Kepler (1634), The Blazing World của Margaret Cavendish (1666), The Isle of Pines của Henry Neville (1688), và Gulliver’s Travels của Jonathan Swift (1726). Những tác phẩm này đều có chung cái sự tò mò chủ đạo đã hình thành nên biết bao tác phẩm khoa học viễn tưởng kinh điển. “Không người nào trên đời có thể kể cho bạn nghe về những con người và quốc gia kỳ lạ và bí hiểm nhiều đến vậy,” More đã viết vậy khi mô tả người đã phát hiện ra hòn đảo giả tưởng Utopia — một câu văn vừa gợi hình vừa thúc giục chẳng kém gì câu “vững bước tiến về nơi chưa ai từng đặt chân tới.” 

Dù ngày nay ít được ai biết đến, The Man in the Moone của Godwin đã khiến độc giả thế kỷ 17 thích mê bởi câu chuyện một nhân vật người Tây Ban Nha đi trên tàu chạy bằng ngỗng. Anh ta bay trong vũ trụ, và đây là lần đầu tiên vũ trụ trong văn học được mô tả với trạng thái vô trọng lượng, sau đó giao du với cư dân của một nền văn minh trên mặt trăng, sau đó rời đi và tìm đến một mảnh đất cũng xa lạ và chứa những công nghệ kỳ lạ không kém đó là Trung Quốc. Sự kết hợp giữa triết học tự nhiên, cách kể chuyện theo lối phiêu lưu, và chất utopia và anh hùng ca đã hớp hồn độc giả Anh và Châu Âu. Nó cũng có sức ảnh hưởng đối với những cây bút lớn suốt nhiều thế kỷ. Tác giả Pháp Savinien de Cyrano de Bergerac đã đùa cợt về cuốn sách ấy trong tác phẩm tiểu thuyết trào phúng năm 1657 của mình, The Other World. Edgar Allen Poe nhắc đến tên truyện trong tác phẩm “The Unparalleled Adventures of One Hans Pfaall” năm 1835 của mình. Và tiểu thuyết Tiên phong lên Mặt Trăng của H.G. Wells năm 1901 lấy cảm hứng trực tiếp từ Godwin.

Godwin cũng gây ảnh hưởng với giới khoa học. Như giáo sư trường Oxford William Poole đã viết trong lời giới thiệu của ấn bản mới nhất cuốn The Man in the Moone, “Văn học hay các truyền thống nhân văn và thiên văn thực tiễn không phải các hoạt động riêng rẽ hoàn toàn đối với các nhà thiên văn học thời đầu hiện đại.” Đối với Godwin, nhân văn và khoa học không chỉ giao thoa với nhau, chúng thường xuyên trở thành những phương pháp nghiên cứu bổ trợ cho nhau. John Wilkins, thành viên Hội Hoàng gia và người phát minh ra hệ thống tiền thân của đơn vị đo mét, đã nói trong cuốn sách Mercury (1641) của mình rằng tiểu thuyết của Godwin có thể “được dùng để khám phá các bí mật” của triết học tự nhiên.

Một tác phẩm thậm chí còn mang tính khơi dậy nhiều hơn khi được xuất bản đó là The Blazing World, do thành viên nữ đầu tiên của Hội Hoàng gia, Margaret Cavendish, viết. Truyện kể về những chuyến đi thông qua Bắc Cực đến một vũ trụ song song nơi có những sinh vật nửa người nửa thú tinh khôn sinh sống: “Người gấu, vài Người giun, … vài Người chim, vài Người ruồi, vài người kiến, vài người ngỗng,” và nhiều loài khác nữa. Trong truyện có máy bay và tàu ngầm, đồng thời có bàn về một số phát kiến khoa học khác, đặc biệt là những phát hiện gần đây sau khi kính hiển vi được phát minh.

Truyện đáng chú ý ở cách dẫn chuyện phức tạp. Bản thân tác giả đóng vai một nhân vật trong truyvà nghĩ về việc viết lách, “gầy dựng và huỷ bỏ vài thế giới trong đầu … một thế giới của những Ý tưởng, một thế giới của những Nguyên tử, một thế giới của Ánh sáng.”

The Blazing World trở thành đề tài nghiên cứu nghiêm túc của các nhà phê bình nữ quyền trong giai đoạn phần tư cuối cùng của thế kỷ 20, và Cavendish gần đây cũng được xuất hiện trong các đề tài bàn luận nổi tiếng. Danielle Dutton, tác giả cuốn tiểu thuyết lịch sử Margaret the First mới đầu năm nay đã khiến Cavendish được quan tâm trở lại, nói rằng lần đầu tiên đọc The Blazing World, cô thấy nó “hết sức quái lạ, theo cái nghĩa tuyệt nhất có thể: thú vật biết nói, các thành phố làm từ hổ phách và san hô, hành động siêu hư cấu là đưa linh hồn Margaret Cavendish đến với Blazing World để làm bạn với Nữ hoàng.” Cuốn sách gợi lên cái thời bi nhông với những ống kính hiển vi và viễn vọng nguyên thuỷ, của những con bọ chét tướng mạo quái quỷ hiện lên rõ rành trước mắt thường, và những khối đá nam châm từ tính thực sự chỉ được về phương Bắc.

* * *

Godwin, Cavendish, và những người cùng thời trở thành nhân vật quan trọng vì đã tạo ra một không gian tưởng tượng hư cấu không giới hạn — và đó vẫn là vai trò của khoa học viễn tưởng ngày nay. Khi xây dựng các thế giới — hoặc sản sinh ra “những kỳ quan giấy,” như cách Cavendish gọi — hành động hình dung những tương lai khả dĩ của các tác giả đã gây ra tác động thấy rõ đối với cách thực tại hình thành. Hãy thử đọc những kỳ quan công nghệ Bacon đã tả trong New Atlantis này xem: “Các phần cơ thể đưa vào cơ thể khác” (ghép nội tạng?), “Tinh thần sảng khoái, và giúp họ khoẻ khoắn” (y dược?), “Chế tạo thức ăn mới từ các chất hiện thời chưa được ứng dụng” (thực phẩm biến đổi gen?), “chế tạo chỉ mới để may áo quần” (sợi tổng hợp?), “Các hình thức đánh lừa giác quan” (TV và phim ảnh?).

Và còn cả phần miêu tả công nghệ mặt trăng chuẩn như tiên đoán trong The Man in the Moone:

Ta sẽ thấy người người bay khắp nơi trong không khí; ta sẽ có thể, (không cần di chuyển hay sử dụng sinh vật nào,) gửi thông điệp trong nháy mắt tới muôn trùng dặm xa, và lập tức nhận được phúc đáp để chia sẻ trực tiếp tư tưởng với bạn bè, khi đang ngồi trong một nơi riêng tư xa xôi trong một thành phố đông đúc, những những thứ tương tự… ta sẽ nhìn ra một thế giới mới … mà mọi hiền triết từ những thời đại trước đến mơ cũng không hình dung nổi.

Đọc đoạn văn đó có ai lại không nghĩ đến di chuyển hàng không, công nghệ viễn thông, internet, máy tính? Đây là một lời tiên tri, nhưng không bắt nguồn từ thánh kinh và thần thoại; Godwin không nói chuyện với thiên tần, và không có gương thuỷ tinh hay công cụ bói toán nào hết. Thay vào đó, ông dựa trên thực nghiệm và suy luận. Và nhờ vậy mà ông có một phẩm chất rất hiếm thấy ở các nhà tiên tri: ông đã đoán đúng.

 “Điều cuộc Cách mạng Khoa học đã làm được,” Nhà sử gia người Anh Keith Thomas đã viết trong cuốn Religion and the Decline of Magic: Studies in Popular Belief in Sixteenth and Seventeenth-Century England, “là… củng cố tư duy duy lý cũ với nền tảng tri thức vững chắc hơn.” Nói vậy tức là, khoa học viễn tưởng không phải lúc nào cũng xuất phát từ các lý giải của khoa học. Thậm chí trước khi khoa học thực sự định hình được, văn chương đã cung cấp phương tiện để nghĩ về khoa học.

Chính khả năng mường tượng những hình thái xã hội khác đã khiến khoa học viễn tưởng được nhiều người cho là có tiềm năng làm nên cách mạng nhất. “Lối phê phán tiền nữ quyền” của Cavendish, nói như Dutton, là “lối phê phán cơ cấu quyền lực thống trị.” Tại nước Anh giai đoạn thế kỷ 17, “những lời phê phán như vậy … lại còn khởi nguồn từ ngòi bút của một người phụ nữ, hẳn sẽ gây cảm giác vô tưởng như đám gấu biết nói [của bà] vậy!”

Từ đó đến nay khoa học viễn tưởng đã đóng vai trò phòng thí nghiệm xã hội của những nhà tư tưởng như Ursula K. LeGuin, Samuel Delaney, Margaret Atwood, Philip K. Dick, và Octavia Butler. Cái sự tự do của giả tưởng tự biện đã giúp những tác giả này có thể đưa ra những câu hỏi về văn hoá thực tại theo những cách rất mới. Trong lịch sử những tác phẩm khoa học viễn tưởng liên quan xã hội, Cavendish là “Người tạo lập” đầu tiên, như cách bà tự xưng. 

Trong The Blazing World, Cavendish có viết rằng “các tác phẩm giả tưởng là thành quả sức tưởng tượng của con người, hình thành trong chính trí óc mình, theo tuỳ cách mình muốn, không cần quan tâm liệu cái thứ mình tưởng tượng có thực sự tồn tại bên ngoài phạm vi trí óc của mình hay không.” Ấy nhưng đối với bà, Godwin, Bacon, và những người khác nữa, những thứ họ tưởng tượng về sau đã “thực sự tồn tại.” Trí trưởng tượng của họ không phải lúc nào cũng cần đến những khám phá thực nghiệm làm tiền đề; trí tưởng tượng của họ được viết ra dưới dạng những vần thơ vui tươi và kỳ diệu, trước khi được thực nghiệm và logic giúp khẳng định là đúng.

Long Nguyen dịch (theo The Atlantic)
Credit ảnh nền: The Atlantic

P/S: Bookism đang trong quá trình xuất bản cuốn "Trạm tín hiệu số 23," một tác phẩm sci fi chiến tranh vũ trụ kiêm tâm lý sâu sắc của tác giả bestsellers Hugh Howey. Tìm hiểu thêm về tác phẩm tại đây:


các bài liên quan